Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HSST

Ngày: 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung. Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/8/2003 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Võ Ngọc H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bửu H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: khối P, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Thạc Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Có mặt).
  3. Anh Hoàng Ngọc H2, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 2736/KH-CATP-GTTT ngày 28/12/2023 của Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An về việc Tuần tra kiểm soát đảm bảo TTATGT, TTĐT tháng 01 năm 2024 (Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 31/01/2024), Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông và trật tự, Công an thành phố V làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đo nồng độ cồn và xử lý các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông tại khu vực đường N giao đường K, thành phố V từ 23 giờ ngày 18/01/2024 đến 06 giờ ngày 19/01/2024 gồm 08 đồng chí. Tổ công tác chia thành hai chốt gồm chốt thứ nhất: Thực hiện nhiệm vụ điều tiết và đo nồng độ người điều khiển phương tiện giao thông trên trục đường N, thành phố V (gồm Thiếu tá Mai Xuân K – Tổ trưởng, Đại uý Hồ Hải L, Đại uý Đào Duy S, Thượng úy Nguyễn Quốc M, Thượng uý Nguyễn Văn T2, Thượng uý Hồ Sỹ N); Chốt thứ hai: Thực hiện nhiệm vụ chống quay đầu xe và kiểm soát tại khu vực đầu đường K, thành phố V giao nhau với đường N (gồm Đại uý Bửu H1, sinh năm 1992, trú tại khối P, phường V, thành phố V, Nghệ An và Trung uý Trần Đình T3).

Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 19/01/2024, đồng chí Thượng úy Nguyễn Văn T2 đang đứng tại khu vực đường N giao với đường K, thành phố V làm nhiệm vụ điều tiết xe vào luồng đo nồng độ cồn thì phát hiện xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5, màu xanh, mang biển kiểm soát 30H-763.77 do Võ Ngọc T, sinh năm 2003, trú tại xóm T, xã N, huyện N, Nghệ An điều khiển, trên xe chở chị Đào Kha Vân A (là bạn gái của T) sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã Y, huyện C, Nghệ An đi theo hướng từ đường N hướng ra quảng trường H.

Khi Võ Ngọc T điều khiển xe ô tô đến ngã tư đường N giao nhau đường K thì dừng lại vì có đèn đỏ. Thượng úy Nguyễn Văn T2 ra hiệu lệnh xe ô tô 30H-763.77 đi vào luồng đo nồng độ cồn. Do nghĩ mình không có Giấy phép lái xe nên Võ Ngọc T điều khiển xe rẽ phải vào đường K, thành phố V để tránh chốt kiểm tra. Đại uý Bửu H1 và Trung úy Trần Đình T3 (đang phụ trách chốt chống quay đầu tại ngã tư giao nhau giữa đường N và K) ra hiệu lệnh để T dừng xe, T điều khiển xe giảm tốc độ, ép sát vào lề đường. Khi xe đang di chuyển vào lề đường thì Trung uý Trần Đình T3 đi đến đứng bên phía ghế lái yêu cầu T hạ kính để kiểm tra đo nồng độ cồn, còn Đại uý Bửu H1 di chuyển lên đứng trước đầu xe (hướng đối diện với ghế lái), cách gương chiếu hậu bên trái xe khoảng 150 cm (hướng từ trái qua phải so với đầu xe), cách đầu xe khoảng 50 cm. Võ Ngọc T điều khiển xe ô tô di chuyển chậm vào lề đường, không hạ kính để thực hiện việc kiểm tra mà đánh lái chếch sang bên phải rồi tăng ga bỏ chạy. Thấy vậy, Đại úy Bửu H1 nhảy lên nắp capo xe ô tô, hai tay bám vào thành capo yêu cầu Võ Ngọc T dừng xe, nhưng Võ Ngọc T vẫn điều khiển xe bỏ chạy theo cung đường K - N - Ngõ C, đường N - Nguyễn Sỹ S1.

Quá trình Võ Ngọc T điều khiển xe ô tô bỏ chạy, Đại úy Bửu Hùng hai lần yêu cầu T dừng xe để anh H1 xuống (tại cuối đường N và trên đường N) thì T đã giảm tốc độ xuống thấp, nhưng lúc này máy đo nồng độ cồn của anh H1 đang kẹp ở thành nắp capo xe ô tô nên anh H1 không gỡ lấy được để xuống xe. Khi Võ Ngọc T điều khiển xe chạy chậm nhưng thấy anh Bửu H1 không xuống xe, T quan sát gương chiếu hậu thấy phía sau có xe ô tô của lực lượng Cảnh sát giao thông đang truy đuổi, sợ bị bắt nên Võ Ngọc T tiếp tục điều khiển xe vào đường N bỏ chạy. Khi đến khu vực phía trước chung cư B, thuộc số A, đường N, thành phố V thì T gây tai nạn với xe taxi Mai Love, màu xanh lá cây, biển kiểm soát 37A-309.94 của anh Nguyễn Thạc Q, sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An đang đỗ trên vỉa hè và dừng lại.

Lúc này, Tổ công tác hỗ trợ đưa Đại úy Bửu H1 xuống nắp ca pô xe ô tô và tiến hành bắt giữ, dẫn giải Võ Ngọc T về trụ sở Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 30H.763.77, T4 (thổi) nồng độ cồn đối với Võ Ngọc T. Kết quả: Phát hiện Võ Ngọc T tàng trữ 0,448 gam chất bột màu trắng (nghi ma túy) trong xe ô tô biển kiểm soát 30H.763.77; xác định Võ Ngọc T không có nồng độ cồn.

Tại Bản Kết luận giám định số 206/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Võ Ngọc T gửi đến giám định là ma túy; loại Ketamine. Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Võ Ngọc T có khối lượng là 0,448 g (không phẩy bốn trăm bốn mươi tám gam)".

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân tỉnh N kết luận: Giá trị thiệt hại tài sản tính bằng Việt Nam đồng của các bộ phận bị hư hỏng trên 02 xe ô tô cụ thể như sau:

+ Xe ô tô biển kiểm soát 37A - 309.94; Nhãn hiệu: TOYOTA; Số loại: VIOS; Màu sơn: Xanh, Số máy: 1NZZ449943, Số khung: 9F39G4026350, sản xuất năm 2016, hiện đang được bảo quản tại Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh N, gồm: hông bên lái; cản sau và đèn pha phía sau bên trái; móp cốp sau, vách cốp, cửa trước phụ; tại thời điểm tháng 01/2024 có giá trị là: 17.600.000₫ (Mười bảy triệu, sáu trăm nghìn đồng).

+ Xe ô tô biển kiểm soát 30H-76377; nhãn hiệu: MAZDA; số loại: CX5; Màu sơn: Xanh, Số máy PE50267431, số khung: RN2KW5726MM053789; sản xuất năm 2021, hiện đang được bảo quản tại Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh N, gồm: cản trước, tai phụ, nắp ca pô, ốp trên cản trước, đèn pha phía trước bên phải, kính chắn gió phía trước; tại thời điểm tháng 01/2024 có giá trị là: 33.400.000₫ (Ba mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng)

* Về vật chứng vụ án: Tạm giữ 02 xe gồm: Xe ô tô biển kiểm soát 30H-76377; nhãn hiệu: MAZDA; số loại: CX5; Màu sơn: Xanh, Số máy PE50267431, số khung: RN2KW5726MM053789 và xe ô tô biển kiểm soát 37A - 309.94; Số máy: 1NZZ449943, Số khung: 9F39G4026350; Nhãn hiệu: TOYOTA; Số loại: VIOS; Màu sơn: Xanh.

Quá trình điều tra xác định: Xe ô tô biển kiểm soát 30H-76377; nhãn hiệu: MAZDA; số loại: CX5; Màu sơn: Xanh, Số máy PE50267431, số khung: RN2KW5726MM053789, chủ sở hữu anh Trần Văn T5, sinh năm 1991, trú tại thôn L, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội cho anh Hoàng Ngọc H2 (chú ruột của T5), sinh năm 1972, trú tại xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 17/01/2024, Võ Ngọc T đến nhà anh Hoàng Ngọc H2 mượn xe ô tô này để đi đón chị Đào Thị Vân A1 (bạn gái của T) gây thiệt hại 33.400.000 đồng.

Xe ô tô biển kiểm soát 37A - 309.94; Nhãn hiệu: TOYOTA; Số loại: VIOS; Màu sơn: Xanh, Số máy: 1NZZ449943, Số khung: 9F39G4026350, chủ sở hữu anh Nguyễn Thạc Q bị Võ Ngọc T gây thiệt hại 17.600.000 đồng

Xét thấy, việc trả lại vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Nghệ An đã trả lại xe ô tô 30H-76377; nhãn hiệu: MAZDA số loại CX5; Màu sơn: Xanh, cho chủ sở hữu anh Trần Văn T5 và xe ô tô biển kiểm soát 37A - 309.94; Nhãn hiệu: TOYOTA; Số loại: VIOS; Màu sơn: Xanh cho chủ sở hữu anh Nguyễn Thạc Q sửa chữa, sử dụng.

Đối với vật chứng gói ma túy; loại Ketamine có khối lượng là 0,448 g (không phẩy bốn trăm bốn mươi tám gam) thu giữ trong xe ô tô biển kiểm soát 30H-76377 của Võ Ngọc T. Do khối lượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N xử lý kèm theo quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với Võ Ngọc T.

* Về dân sự:

Anh Bửu H1, sinh năm 1992, trú tại khối P, phường V, thành phố V, Nghệ An và ông Trần Văn T5, sinh năm 1991, trú tại thôn L, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội (chủ xe ô tô mang biển kiểm soát 30H-763.77) không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Anh Nguyễn Thạc Q, sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An là chủ xe ô tô mang biển kiểm soát 37A-309.94 yêu cầu bồi thường như sau: tiền sửa chữa xe ô tô là: 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng), tiền bồi thường xe không hoạt động kinh doanh được: 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). Tổng cộng: 18.700.000 đồng (mười tám triệu bảy trăm nghìn đồng). Tuy nhiên anh Q chỉ yêu cầu T phải bồi thường 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng). Hiện nay, Võ Ngọc T đã ủy quyền cho anh Hoàng Ngọc H2 bồi thường đầy đủ cho anh Q và anh Q không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Bản cáo trạng số 78/CT - VKS – P2 ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T 09 đến 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do trước phiên tòa bị cáo ủy quyền cho anh Hoàng Ngọc H2 thỏa thuận bồi thường đầy đủ cho anh Nguyễn Thạc Q và anh Q không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Võ Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Võ Ngọc T không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bửu H1 vắng mặt nhưng xét thấy anh H1 có đơn xin xử vắng mặt và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, anh H1 đã có lời khai đầy đủ và không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 293, 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ, 05 phút ngày 19/01/2024, Võ Ngọc T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30H-763.77, nhãn hiệu: MAZDA; số loại: CX5; Màu sơn: Xanh đi từ đường H đến đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường N và đường K thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Võ Ngọc T thấy lực lượng Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ ra hiệu lệnh điều khiển xe vào làn kiểm tra. Do không có giấy phép lái xe nên Võ Ngọc T không chấp hành hiệu lệnh mà điều khiển xe ô tô rẽ phải vào đường K. Lúc này, Đại úy Bửu H1 và Trung úy Trần Đình T3 ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Võ Ngọc T điều khiển xe ô tô di chuyển chậm vào lề đường, đồng thời đánh lái chếch sang bên phải rồi tăng ga bỏ chạy, Đại úy Bửu H1 nhảy lên nắp capô xe ô tô yêu cầu Võ Ngọc T dừng xe nhưng Võ Ngọc T vẫn điều khiển xe tiếp tục bỏ chạy. Đến khu vực phía trước chung cư B, thuộc số A, đường N, thành phố V, xe ô tô của Võ Ngọc T gây tai nạn với xe ô tô, biển kiểm soát 37A-309.94 thì dừng lại.

Như vậy, hành vi của bị cáo Võ Ngọc T đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án, vai trò phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Ngọc T là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo nhận thức được tổ công tác đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đo nồng độ cồn và xử lý các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông tại khu vực đường N giao đường K nhưng bị cáo vẫn có hành vi không chấp hành hiệu lệnh và điều khiển xe bỏ chạy sau đó gây tai nạn giao thông với một xe ô tô khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn của những người thi hành công vụ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương vì vậy cần phải có một hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ủy quyền cho người nhà bồi thường đầy đủ cho người có quyền lợi liên quan để khắc phục hậu quả do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

[5] Đối với hành vi điều khiển xe ô tô nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định của Võ Ngọc T và hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông của ông Hoàng Ngọc H2, sinh năm 1972, trú tại xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ngày 04/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã có Công văn gửi Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An đề nghị xử phạt hành chính đối với những người vi phạm nêu trên đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” loại Ketamine với khối lượng là 0,448 gam của Võ Ngọc T. Do khối lượng ma túy thu giữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 05/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Ngọc T bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, chị Đào Kha Vân A, sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã Y, huyện C, Nghệ An là người đi cùng Võ Ngọc T trên xe ô tô biển kiểm soát 30H-76377. Quá trình xảy ra vụ án, chị Vân A đã nhiều lần ngăn cản nói T dừng xe nhưng T vẫn điều khiển xe bỏ chạy nên hành vi của Đào Kha Vân A không có dấu hiệu đồng phạm, không bị xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Võ Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/01/2024.

Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo Võ Ngọc T.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao;
  • - VKSND Cấp Cao;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 73/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger