Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG SƠN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HSST

Ngày 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Hải và ông Võ Sỹ Huyền.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam, thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Đại diện VKSND huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Cao Anh B, Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST- HS, ngày 06/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Huy Q; sinh ngày: 23 tháng 10 năm 1975; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Huy M và bà Hồ Thị L; vợ: Nguyễn Thị N; con: 03 đứa, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2007; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ 02; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 16/8/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 31/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1992. Nơi cư trú: Số B, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Chị Phan Thị X, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Chị Trần Thị H1, sinh năm: 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  4. Chị Trần Thị N1, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  5. Chị Trần Thị Thân T, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Căn hộ S chung cư P, khu phố T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  6. Chị Lê Hà K, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Khối phố A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  7. Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 2003; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  8. Chị Thái Thị H2, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  9. Chị Hoàng Thị Thanh H3, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bà Đoàn Thị H4, sinh năm: 1964; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Bà Vũ Thị B1, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  4. Anh Nguyễn Thanh B2, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân dù không phải là thầy xem bói toán, giải hạn nhưng Hồ Huy Q đã đưa ra thông tin gian dối, rồi thông qua mạng xã hội để lấy các thông tin bài viết về tướng số, tử vi, lá căm để gửi cho các bị hại xem để họ tin tưởng Q có khả năng xem bói toán, cúng bái và giải hạn. Khi bị hại tin tưởng, Q đưa ra thông tin gian dối làm chi bị hại lo lắng như: Vong âm theo gây cản trở việc làm ăn, gia đình có người có thể gặp nguy hiểm về tính mạng và yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng của mình để giúp làm lễ cúng bái, giải vong, giải hạn, sau đó sẽ trả lại tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 17/7/2024 Hồ Huy Q đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bản cả nước gồm thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; phường T, quận C, thành phố Hà Nội; phường V, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:

  • - Đối với bị hại Phạm Thị H, bằng thủ đoạn như trên Hồ Quang H5 đã 01 lần lừa đảo chiếm số tiền trên 2.000.000 đồng và 01 lần dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Ngày 05/01/2024 Q yêu cầu chị H chuyển số tiền 2.000.000 đồng để làm lễ giải hạn và giải vong. Cùng ngày chị H chuyển số tiền 2.000.000 đồng cho Q. Lần thứ hai: Ngày 26/02/2024 Quang thông B3 đã làm lễ xong và yêu cầu chị H chuyển số tiền 500.000 đồng tiền phí làm lễ. Cùng ngày, chị H chuyển số tiền 300.000 đồng cho Q. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không làm lễ giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng cộng số tiền đoạt là 2.300.000 đồng.
  • - Đối với bị hại chị Phan Thị X, Hồ Huy Q đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm: Lần thứ nhất: Ngày 29/02/2024 Q yêu cầu chị X chuyển số tiền 4.500.000 đồng để làm lễ giải vong và hứa hẹn bề trên sẽ trả lại số tiền này. Cùng ngày, chị X chuyển số tiền 4.500.000 đồng cho Q. Đến ngày 03/3/2024 Q trả lại cho chị X số tiền 1.600.000 đồng để tạo lòng tin của chị X. Lần thứ hai: Ngày 11/3/2024 Q yêu cầu chị X chuyển số tiền 4.600.000 đồng cho Q. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không làm lễ giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 9.100.000 đồng.
  • Đối với bị hại chị Trần Thị H1, Hồ Huy Q đã 01 lần lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên 2.000.000 đồng và 01 lần dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Ngày 29/02/2024 Q yêu cầu chị H1 chuyển số tiền 2.000.000 đồng để làm lễ giải vong. Cùng ngày chị H1 chuyển số tiền 2.000.000 đồng co Q; lần thứ hai: Ngày 02/3/2024 Q yêu cầu chị H1 chuyển tiếp số tiền 1.900.000 đồng để làm lễ xem ngày đẹp mua xe ô tô. Cùng ngày chị H1 chuyển số tiền 1.900.000 đồng cho Q. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không làm lễ giải hạn, xem ngày mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng công số tiền chiếm đoạt là 3.900.000 đồng.
  • Đối với bị hại chị Trần Thị Nguyệt Hồ Huy Q đã 04 lần lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên 2.000.000 đồng và 02 lần dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Ngày 02/3/2024 Q yêu cầu chị N1 chuyển số tiền 4.000.000 đồng để làm lễ cầu xin thay đổi tính nết cho chồng và con trai. Cùng ngày chị N1 chuyển số tiền 4.000.000 đồng cho Q. Lần thứ hai: Ngày 06/3/2024 Q yêu cầu chị N1 chuyển tiếp số tiền 6.200.000 đồng để làm lễ xin cho con trai được đi xuất khẩu lao động và xin tài lộc cho gia đình. Cùng ngày chị N1 chuyển số tiền 6.200.000 đồng cho Q; lần thứ ba” Ngày 07/3/2024 Quang thông B3 chưa đủ tiền làm lễ và yêu cầu chị N1 chuyển tiếp số tiền 3.500.000 đồng cho Q; lần thứ tư: Ngày 08/3/2024 Q yêu cầu chị N1 chuyển tiếp số tiền 9.700.000 đồng để làm lễ giải hạn và xin bề trên trả số tiền đã chuyển trước đó. Cùng ngày chị N1 chuyển số tiền 9.700.000 đồng cho Q; lần thứ năm: Ngày 14/3/2024 Q yêu cầu chị N1 chuyển tiếp số tiền 930.000 đồng để làm lễ cầu xin đổi được đất ở. Cùng ngày chị N1 chuyển số tiền 930.000 đồng; lần thứ sáu: Ngày 26/3/2024 Q yêu cầu chị N1 chuyển tiếp số tiền 1.000.000 đồng để làm lễ cầu xin đổi được đất ở và hứa hẹn trong ngày hôm đó sẽ trả lại số tiền 1.000.000 đồng cho chị N1. Cùng ngày chị N1 chuyển số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không thực hiện việc làm lễ, xem bói giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền Q lừa đảo chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng 23.400.000 đồng và 02 lần dưới 2.000.000 đồng là 1.930.000 đồng. Tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 25.330.000 đồng.
  • - Đối với bị hại chị Trần Thị Thân T, Hồ Huy Q đã 01 lần lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên 2.000.000 đồng và 01 lần dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Ngày 16/3/2024 Q yêu cầu chị T chuyển số tiền 600.000 đồng gồm 400.000 đồng làm lễ giải hạn cho bố mẹ của chị T, còn 200.000 đồng để trả tiền phí xem bói của gia đình chị T và gia đình chị Đoàn Thị H6 và 1.300.000 đồng để làm lễ giải hạn cho gia đình chị T. Cùng ngày chị T chuyển số tiền 1.900.000 đồng cho Q; lần thứ hai: Ngày 17/3/2024 Q yêu cầu chị T chuyển số tiền 3.000.000 đồng để làm lễ giải hạn cho gia đình chị Vũ Thị B1, 100.000 đồng để trả tiền phí xem bói của gia đình anh Nguyễn Thanh B2 và số tiền 450.000 đồng để làm lễ xin bề trên trả lại số tiền chị T đã chuyển trước đó. Cùng ngày chị T chuyển số tiền 3.550.000 đồng cho Q. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không xem bói, giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 5.450.000 đồng.
  • - Đối với bị hại chị Lê Hà K, Hồ Huy Q đã thực hiện 01 lần lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên 2.000.000 đồng và 01 lần dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Ngày 08/5/2024 Q yêu cầu chị K chuyển số tiền 3.700.000 đồng để làm lễ giải hạn, cùng ngày chị K chuyển số tiền 3.600.000 đồng cho Q; lần thứ hai: Chiều ngày 08/5/2024 Q yêu cầu chị K chuyển tiếp số tiền 930.000 đồng để làm lễ cầu siêu cho chồng thứ nhất và để chồng thứ hai nhận con gái của chị K với chồng thứ nhất làm con nuôi. Cùng ngày, chị K đã chuyển số tiền 930.000 đồng cho Q. Sau khi chiếm đoạt số tiền Q không mua lễ giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 4.530.000 đồng.
  • * Ngoài ra Hồ Huy Q còn có hành vi nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng của 03 bị hại gồm:
    • - Ngày 06/01/2024 Hồ Huy Q gọi điện yêu cầu anh Nguyễn Ngọc T1 chuyển khoản số tiền 300.000 đồng để giải hạn cho anh T1. Sau khi anh T1 chuyển tiền, đến ngày 08/01/2024 Q tiếp tục yêu cầu chuyển 500.000 đồng để làm lễ. Do tưởng thật nên anh T1 đã chuyển 500.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền 800.000 đồng Q không thực hiện việc làm lễ giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết.
    • - Ngày 10/3/2024 Hồ Huy Q gọi điện yêu cầu chị Thái Thị H2 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng để mua lễ cúng giải vong. Sau khi chuyển tiền thì Q nhắn tin với mẹ của chị H2 vào tháng 4/2024 sẽ có hạn nặng và yêu cầu chuyển số tiền 1.500.000 đồng để làm lễ vào lúc 14 giờ cùng ngày. Sau đó chị H2 nghi ngờ Q lừa đảo nên đã không chuyển tiền cho Q nữa. Sau khi chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng Q không mua lễ giải hạn mà tiêu xài cá nhân hết.
    • - Ngày 17/7/2024 Hồ Huy Q nhắn tin yêu cầu chị Hoàng Thị Thanh H3 chuyển 03 lần tiền để làm lễ giải gạn cho chị H3, lần thứ nhất với số tiền 500.000 đồng, lần thứ hai số tiền 90.000 đồng, lần thứ ba với số tiền 120.000 đồng. Cùng ngày chị H3 chuyển cho Q tổng số tiền 710.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được số tiền Q không làm lễ giải hạn cho chị H3 mà tiêu xài cá nhân hết. Tổng cộng số tiền Hồ Huy Q1 lừa đảo chiếm đoạt là 52.620.000 đồng.

Trong quá trình điều tra Hồ Huy Q còn khai nhận bản thân còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị H7 với số tiền 2.600.000 đồng, anh Nguyễn Văn T2 số tiền 4.600.000 đồng, anh Nguyễn Tiến Q2 số tiền 1.200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có thông tin và địa chỉ cụ thể của những người này.

* Về dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường đầy đủ cho các bị hại gồm chị Phan Thị X, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị N1, hiện tại chị X, chị H1, chị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự; các bị hại chị Lê Khánh H8, chị Phạm Thị H, chị Trần Thị Thân T, chị Thái Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự; đối với bị hại anh Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền 800.000 đồng.

* Vật chứng vụ án chuyển cho Chi cục Thi hành án dặn huyện Hương Sơn gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu xanh, số I 865532064949197, gắn hai thẻ sim số thuê bao 0978.748.912 và 0964.965.475, điện thoại đã qua sử dụng; số tiền 800.000 đồng do bị cáo Hồ Huy Q giao nộp.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn đã truy tố Hồ Huy Quang về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35; khoản 1 Điều 48; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự xử phạt bị cáo Hồ Huy Q 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị hội đồng xét xử xử phạt tiền bị cáo Hồ Huy Q số tiền 20.000.000 đồng tiền ngân hàng N2.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị hội đồng xét xử buộc bị cáo Hồ Huy Q phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 800.000 đồng nhưng được khấu trừ trong số tiền 800.000 đồng bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Đối với các bị hại chị Phan Thị X, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị N1 bị cáo đã thực hiện việc bồi thường, hiện tại chị X, chị H1, chị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự; các bị hại chị Lê Khánh H8, chị Phạm Thị H, chị Trần Thị Thân T, chị Thái Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên đề nghị hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu xanh, số Imei 865532064949197, điện thoại đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu tiêu hủy gắn hai thẻ sim số thuê bao 0978.748.912 và 0964.965.475.

Bị cáo Hồ Huy Q thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị hại chị Phạm Thị H, chị Phan Thị X, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị N1, chị Trần Thị Thân T, chị Lê Hà K, anh Nguyễn Ngọc T1, chị Thái Thị H2, chị Hoàng Thị Thanh H3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H4, bà Vũ Thị B1, anh Nguyễn Thanh B2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị cáo Hồ Huy Q, người có quyền ợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên xét xử vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi liên quan theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Huy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 17/7/2024 Hồ huy Q đã đưa ra thông tin gian dối bản thân biết xem bói toán, giải hạn nhằm làm cho các bị hại tin tưởng chuyển tiền cho Q qua số tài khoản 19039337824011 của ngân hàng T4 để nhờ Q xem bói và giải hạn. Bằng thủ đoạn này Q đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại trên địa bàn cả nước gồm chị Phạm Thị H số tiền 2.300.000 đồng, chị Phan Thị X số tiền 9.100.000 đồng, chị Trần Thị H1 số tiền 3.900.000 đồng, chị Trần Thị N1 số tiền 25.330.000 đồng, chị Trần Thị T3 số tiền 5.40.000 đồng, chị Lê Hà K số tiền 4.530.000 đồng, anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 800.000 đồng, chị Thái Thị H2 số tiền 500.000 đồng, chị Hoàng Thị Thanh H3 số tiền 710.000 đồng. Tổng số tiền Q chiếm đoạt là 52.620.000 đồng đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo sử dụng mạng xã hội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần chứng tỏ sự liều lĩnh và coi thường pháp luật. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện để nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Huy Q thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha đẻ là ông Hồ Huy M là người có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ sức khỏe yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình và tích cực ủng hộ địa phương, thôn xóm trong việc xây dựng nông thôn mới cũng như trong công tác phòng chống dịch covid 19. Vì vậy, cần căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[7] Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước tới ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào, có khả năng tự cải tạo. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm và thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[8] Theo lời khai của Hồ Huy Q, ngoài việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại nêu trên thì Q còn lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 8.400.000 đồng của chị Trần Thị H7, anh Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Tiến Q2. Quá trình điều tra cơ quan chức năng đã tiến hành xác minh địa chỉ của bị hại nhưng không có kết quả nên chưa đủ căn cứ xử lý, cơ quan điều tra đã tách hành vi này để tiếp tục xác minh, xử lý khi có kết quả nên hội đồng xét xử miễn xét.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích tư lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện việc bồi thường cho các bị hại chị Phan Thị X, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị N1, hiện tại chị X, chị H1, chị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự; các bị hại chị Lê Khánh H8, chị Phạm Thị H, chị Trần Thị Thân T, chị Thái Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên hội đồng xét xử miễn xét.

Bị hại anh Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 800.000 đồng, hiện tại bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường. Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền nói trên nhưng được trừ trong số tiền 800.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

[11] Về vật chứng vụ án: 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu xanh, số Imei 865532064949197, điện thoại đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- 02 Thẻ sim số thuê bao 0978.748.912 và 0964.965.475 là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[12] Về án phí: Bị cáo Hồ Huy Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35; khoản 1 Điều 48; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:
  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Huy Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hồ Huy Q 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/11/2024).
  • Giao Hồ Huy Q cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Hồ Huy Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Hồ Huy Q 20.000.000 đồng tiền ngân hàng N2. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Huy Q phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 800.000 đồng nhưng được khấu trừ trong số tiền 800.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai thu tiền số 0002539 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Về vật chứng vụ án:
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu xanh, số Imei 865532064949197, điện thoại đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu tiêu hủy gắn hai thẻ sim số thuê bao 0978.748.912 và 0964.965.475. (Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024).
  • - Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Huy Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Huy Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại chị Phạm Thị H, chị Phan Thị X, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị N1, chị Trần Thị Thân T, chị Lê Hà K, anh Nguyễn Ngọc T1, chị Thái Thị H2, chị Hoàng Thị Thanh H3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H4, bà Vũ Thị B1, anh Nguyễn Thanh B2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày niêm yết bản án chính theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV 06);
  • - VKSND huyện H;
  • - Công an huyện H;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã S;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 73/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Huy Q - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger