Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 07 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trịnh Trung Tuyến
  2. Ông Lê Đăng Thiện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 21/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 24/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn T1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1983 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...], cấp ngày 20/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn T2 (Đã chết) và bà Vi Thị H; Có vợ là Bùi Thị T3 và 02 con.

Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Anh Vi Văn T4, sinh năm 1980 (Đã chết)

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

Anh Vi Văn V, sinh năm 1983 (Có mặt);

Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

* Những người làm chứng:

  • + Anh Lương Văn H1, sinh năm 1990
  • Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Chị Lê Thị H2, sinh năm 1987;
  • + Anh Lê Văn L, sinh năm 1988;
  • + Bà Bùi Thị O, sinh năm 1956;
  • Cùng địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Lê Văn C, sinh năm 1983;
  • Địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Lê Xuân T5, sinh năm 1984;
  • + Anh Phạm Văn T6, sinh năm 1985;
  • + Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1984;
  • Cùng địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 07 giờ ngày 27/4/2024, anh Vi Văn T4 (sinh năm 1980, trú tại khu phố G, thị trấn S, huyện T - em họ của T1) đi bộ đến nhà Lương Văn T1 (cùng khu phố) chơi. Sau đó T1 điều khiển xe mô tô BKS 36D1-509.97 mượn của anh Lương Văn H1 (em ruột của T1) chở T4 đến nhà bà Bùi Thị O (sinh năm 1956, trú ở thôn L, X, huyện T) để lấy điện thoại của T1 bỏ quên trước đó. Sau khi lấy được điện thoại, T1 điều khiển xe chở T4 sang nhà anh Lê Văn L (sinh năm 1988, trú ở thôn L, xã X, huyện T) ăn cơm trưa.

Khoảng gần 13 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, T1 điều khiển xe chở T4 về nhà. Khi đi đến đoạn đường qua thôn C, xã X (đoạn đường đang thi công, chưa đưa vào sử dụng), do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, T1 không phát hiện được phía trước có gờ mặt đường cao 15cm (nơi tiếp giáp giữa mặt đường chưa được trải thảm nhựa và mặt đường đã được trải thảm nhựa) nên đã đâm vào gờ mặt đường này khiến xe mô tô loạng choạng, đi được một đoạn khoảng 15,3m làm cho T1, T4 và xe mô tô ngã, trượt xuống mặt đường. Hậu quả anh T4 bị thương tích nặng nằm bất tỉnh, T1 bị xây xước ngoài da, còn tỉnh táo nên cùng người dân đưa anh T4 đến bệnh viện cấp cứu. Do anh T4 bị thương tích nặng, bệnh viện xác định không qua khỏi nên người thân đã xin đưa về nhà. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/4/2024 thì tử vong tại nhà riêng.

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thống là đoạn đường một chiều hướng xã X đi thị trấn S, thuộc tuyến đường đổi số 4 đang thi công thuộc địa phận thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc tiếp giáp với vườn cây keo, phía Nam tiếp giáp với nhà chị Trịnh Thị N (sinh năm 1984). Đường đôi là đường thẳng, dọc hướng Đông – T, trong đó hướng Đ là hướng đi thị trấn S, hướng Tây là hướng đi xã X. Phần đường theo chiều T – Đông là hướng xã X đi thị trấn S đã được rải nhựa rộng 8,5m, lề đường là lề đất. Đường đôi có dải phân cách cứng ở giữa. Chọn mép đường bên trái (mép lề dải phân cách) phần đường chiều xã X đi thị trấn S của đường đôi số 4 làm mép chuẩn, ký hiệu (A). Lấy cột cổng bên phải nhà chị Trịnh Thị N theo hướng từ ngoài nhìn vào làm mốc chuẩn. Qua mốc kẻ đường thẳng vuông góc với (A) được đường thẳng cố định, ký hiệu (B).

Quá trình khám nghiệm hiện trường, phát hiện: Cách (B) 45,8m về hướng Tây (hướng đi xã X) tại phần đường theo chiều xã X đi thị trấn S của đường đôi số 4 là điểm gờ ngăn cách giữa đoạn đường đã được rải nhựa phẳng và đoạn đường chưa được rải nhựa phẳng. Điểm gờ này chia đường thành 2 phần trong đó: phần sát rải phân cách diện rộng 4,5m, cao 0,15m (gờ 1); phần sát lề đường diện rộng 4m, cao 0,08m (gờ 2); cách gờ 2 một đoạn 14,5m về hướng Đ, song song với gờ 2 là gờ 3 có diện rộng 4m, cao 0,07m. Gờ 2 và gờ 3 tạo thành một mặt phẳng hình chữ nhật.

Vết (1): Vết cà trượt không liên tục trên mặt đường dài 22,2m, trong diện rộng nhất là 0,55m. Vết gồm các vết đơn có kích thước từ (0,005-0,015)m. chiều T - Đ. Đầu vết cách (A) là 4m về hướng Nam, cách (B) là Vết có 40,5m về hướng Tây, cách gờ 1, gờ 2 là 15,3m về hướng Đông, cách gờ 3 là 1,6m về hướng Đông.

Vết (2): chất màu nâu đen dạng dầu máy, kích thước (0,57 x 0,55)m, nằm ở cuối vết (1). Cuối vết (1) cách (A) là 6,2m về hướng N.

Vết (3): chất màu nâu đỏ đã khô, kích thước trong diện (1,2 x 0,75)m. Vết cách vết (2) (cuối vết 1) là 3,8m về hướng T, cách (A) là 3,5m về hướng N.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô Biển kiểm soát 36D1- 509.97: Mặt lăn và má phải lốp trước cách cuối hàng chữ "ROTATION" 12,5cm, cùng chiều chuyển động tiến có vết tì trượt làm mòn cao su kích thước (8,7 x 10,5) cm, chiều hướng vết từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, bề mặt vết bám dính lớp màng màu đen. Cần và ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái, mặt trước ngoài ốp nhựa bên trái xe, mặt trước ngoài tay nắm bên trái, mặt ngoài cánh yếm bên trái, mặt trước ngoài đầu mút giá để chân trước bên trái, mặt ngoài bên trái tay nâng có các vết cà làm mòn kim loại, cao su và nhựa, chiều hướng vết từ trước về sau, chếch từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính bụi đất.

Kết quả xem xét dấu vết trển thân thể đối với Lương Văn T1: Tại vị trí đuôi lông mày trái có một vết xây xước da, kích thước (3 x 1,5)cm. Tại vị trí đuôi mắt trái có một vết xây xước da, kích thước (2 x 2,5)cm. + Tại vị trí mặt ngoài khuỷu tay và bắp tay phải có một vết xây xước da trong diện (15 x 4)cm. Tại vị trí mặt ngoài cổ tay phải có một vết xây xước da kích thước (1,5 x 1,5)cm. Tại vị trí mặt ngoài đốt 1 ngón út bàn tay phải có một vết xây xước da kích thước (1,5 x 1,5)cm. Tại vị trí khuỷu tay phải, mặt ngoài bả tay phải có một vết xây xước da trong diện (20 x 05 )cm. Tại vị trí cổ tay trái có một vết xây xước da kích thước (2,5 x 4)cm . Tại vị trí mu bàn tay trái có một vết xây xước da kích thước (10 x 4)cm . Tại vị trí bả vai trái có một vết xây xước, rách da kích thước (10 x 5)cm. Tại vị trí đầu gối trái có một vết xây xước, rách da kích thước (5 x 3)cm. Tại vị trí mắt cá chân trái có một vết xây xước, rách da kích thước (2 x 1,5)cm. Lương Văn T1 bị thương tích ngoài da, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên từ chối giám định pháp y thương tích, không có yêu cầu đối với thương tích trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 2015/KL-GĐTT-PC09 ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định T4 bị các thương tích gồm: Các vết xây xước da, sưng nề, tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, ngực, bụng, tay. Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh thái dương chẩm trái và một phần co thái dương trái. Tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết khoang dưới nhện, phù não. Ngoài ra tại Bản sao bệnh án Bệnh viện đa khoa huyện T của Vi Văn T4 còn khẳng định: Chấn thương sọ não: Hình ảnh tăng tỷ trọng tự nhiên trong nhu mô não vị trí bán cầu đại não bên phải. Hình ảnh tăng tỷ trọng tự nhiên trong các rãnh cuộn não thùy thái dương trái. Đường liên bán cầu bị đè đẩy sang trái 7mm. Hình ảnh vỡ bờ ngoài hố mắt trái. Gãy cung tiếp xương gò má trái. Vỡ thành trước và thành ngoài xoang hàm trái. Tụ dịch nhiều xoang. Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não

Kết quả làm việc với Ban Q1: Tại công văn số 1203/BQLDA-ĐHDA3 ngày 17/6/2024, 1777/BQLDA- ĐHDA3 ngày 06/9/2024 của Ban Q1 cung cấp thông tin: Tuyến số 4 đoạn qua thôn C, xã X thuộc dự án đường giao thông từ Quốc lộ D đến đường H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Chủ đầu tư: Sở Giao thông vận tải tỉnh T. Đơn vị quản lý dự án được ủy thác và giám sát thi công: Ban Q1. Công ty cổ phần T7 thi công đoạn tuyến từ Km3+840 - Km4+300 đi qua thôn C, xã X (đoạn xảy ra tại nạn). Quá trình triển khai dự án nhà thầu thi công đã thực hiện theo các điều khoản về tiến độ, chất lượng, an toàn theo hợp đồng đã ký. Trong đó đoạn tuyến xảy ra tai nạn đã được nhà thầu thi công theo đúng hồ sơ thiết kế được phê duyệt, bố trí hệ thống đảm bảo an toàn giao thông trong thi công theo quy định; vị trí tiếp giáp giữa đoạn đường thi công đã hoàn thành mặt đường nhựa với đoạn đường đã thi công hoàn thành móng đường cấp phối đá dăm là vị trí mối nối chờ bê tông nhựa tại hai đầu đoạn tuyến (để chờ cho đợt thảm bê tông nhựa mặt đường tiếp theo) đảm bảo tiêu chuẩn TCVN0019:2011 (nay được thay thế bằng TCVN 13567-1:2022).

Ngày 28/4/2024, tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở, giám định nồng độ cồn trong máu, xét nghiệm các chất gây nghiện trong mẫu nước tiểu đối với Lương Văn T1. Kết quả là 0,00mg/1 khí thở, không có cồn trong máu, âm tính với chất gây nghiện.

Giám định nồng độ cồn, giám định ma túy trong máu của Vi Văn T4. Kết quả: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy, nồng độ cồn là 96,74mg/100ml máu.

Kết quả kiểm tra hệ thống camera an ninh, hệ thống biển báo hiệu đường bộ, hệ thống biển cảnh báo, rào chắn trong khu vực hiện trường, xung quanh hiện trường: Tại hiện trường, xung quanh hiện trường phát hiện 01 camera an ninh tại nhà ông Phạm Công Q (sinh năm 1960, trú ở thôn Đ, xã X) ghi lại nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Tại hiện trường, xung quanh hiện trường không có biển báo nào. Mở rộng hiện trường về phía xã X 2km. Tại nơi tiếp giáp đường đường số 4 với đường H có rào chắn, biển cảnh báo công trường đang thi công, không phận sự miễn vào; cách 0,8km về hướng thị trấn S có biển báo công trường đang thi công, không phận sự miễn vào.

Ngày 04/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số điện tử đối với video thu thập được trong quá trình điều tra. Tại Bản kết luận giám định số: 3102/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tập video của 02 đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định. Không xác định được tốc độ của xe mô tô trong tệp video gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 2059/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 36D1-509.97 với người, phương tiện khác. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô BKS: 36D1-509.97 có hướng di chuyển từ xã X đi thị trấn S. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS: 36D1-509.97 tại thời điểm xảy ra tai nạn

Tại Bản kết luận giám định số: 2027/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường gửi giám định là máu của một người nam giới, ADN của người nam giới này trùng khớp với ADN của Vi Văn T4. Lưu kiểu gen của Vi Văn T4 và Lương Văn T1 tại Phòng K, Công an tỉnh T.

Về trách nhiệm dân sự: Lương Văn T1 đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng. Gia đình bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác.

Đối với xe mô tô BKS: 36D1-509.97 là xe T1 mượn của Lương Văn H1 (em ruột Lương Văn T1). Cơ điều tra đã trả lại xe mô tô BKS: 36D1-509.97 và đăng ký xe cho anh H1 là đúng quy định.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSTX ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lương Văn T1 về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không đề nghị HĐXX xem xét. Đề nghị trả cho Lương Văn T1 01 giấy phép lái xe; tiêu hủy vật chứng còn lại không có giá trị và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo và đại diện gia đình bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Khoảng 13 giờ ngày 27/4/2024, Lương Văn T1 điều khiển xe mô tô BKS: 36D1-509 97 chở theo anh Vi Văn T4 ngồi sau đi trên đường số D, đoạn qua thôn C, xã X, huyện T (hướng xã X đi thị trấn S). Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, T1 đã điều khiển Xe đâm vào gờ mặt đường cao 15cm (nơi tiếp giáp giữa mặt đường được trải thảm nhựa và nơi chưa được trải thảm nhựa) khiến người và xe mô tô bị đổ ngã xuống mặt đường. Hậu quả làm anh Vi Văn T4 tử vong. Hành vi của bị can Lương Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng.

Bị cáo Lương Văn T1 tham gia giao thông đường bộ có Giấy phép lái xe hạng A1. Tuy nhiên do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên bị cáo Lương Văn T1 đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính Phủ gây thiệt hại làm chết người. Do đó bị cáo T1 phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, đủ cơ sở để HĐXX khẳng định bị cáo Lương Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng số 78/CT-VKSTX ngày 18/10/2024 của VKSND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra làm anh Vi Văn T4 tử vong tử vong, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của người khác, gây đau thương cho gia đình nạn nhân và trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; quá trình tham gia công tác tại địa phương T1 được UBND thị trấn S và UBND huyện T tặng thưởng nhiều giấy khen nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo

[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án bao gồm:

  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 còn hiệu lực là của bị cáo Lương Văn T1, không liên quan đến tội phạm. HĐXX áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo;
  • 01 quần dài bằng vải, màu nâu nhạt, phần mặt trước ống quần bên trái bị rách nham nhở, bám dính chất màu nâu và 01 áo sơ mi cọc tay, sọc vuông caro màu đen trắng, size L là quần áo của Lương Văn T1 mặc khi điều khiển xe xảy ra tai nạn đều là vật không còn giá trị và không sử dụng được nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu tiêu hủy

[9] Về án phí: Bị cáo có tội và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định cảu pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Lương Văn T1 phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS.

Xử phạt: Lương Văn T1 13 (Mười ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/11/2024). Giao bị cáo cho UBND thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Trả lại cho Lương Văn T1 01 giấy phép lái xe hạng A1;
  • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 quần dài bằng vải, màu nâu nhạt, phần mặt trước ống quần bên trái bị rách nham nhở, bám dính chất màu nâu và 01 áo sơ mi cọc tay, sọc vuông caro màu đen trắng, size L2.

Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân số 03 ngày 23/10/2024.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lương Văn T1 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm. Có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Thọ Xuân;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Xuân Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Thắng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger