TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 73/2024/HSST Ngày: 12 - 9 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang Minh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh
- và bà Trần Thị Thúy Vinh
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Vũ T; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1979, tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1955; vợ Trần Thị P (đã ly hôn); Con: Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không.
Quá trình bản thân: Năm 1993 bị xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi trộm cắp tài sản công dân (lúc này mới 14 tuổi, 4 tháng, 6 ngày). Tháng 4 năm 2001 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau. Tháng 11 năm 2001 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Theo Lệnh trích xuất, Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1- Ông Mai Văn H1, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt không rõ lý do.
- 2- Bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Có mặt.
- 3- Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 27/3/2024, Phạm Vũ T đi vào khu vực chợ thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá từ một người lái xe ôm (không rõ danh tính và địa chỉ), rồi đưa về nhà cất giấu. Đến khoảng 20 giờ ngày 30/3/2024, T đang ở nhà thì có một nam thanh niên (không rõ danh tính và địa chỉ), điện thoại cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T đồng ý bán và T đã gửi số tài khoản cho người này để chuyển khoản. Lúc này, Mai Văn H1 nhận được tin nhắn từ tài khoản Messenger có tên “K” có nội dung, nhờ H1 tới cổng chợ T3 thuộc xã T, huyện B lấy 300.000 đồng để đi chuyển khoản cho T và tới nhà T lấy ma túy, rồi đưa xuống cổng thôn T, xã T, huyện B đưa cho “K” và “K” sẽ trả cho 100.000 đồng tiền công, H1 đồng ý. H1 đến chợ T3, xã T gặp một nam thanh niên khoảng 18 tuổi (không rõ danh tính, địa chỉ) đưa cho H1 300.000 đồng và nói với H1, anh “K” nhờ đưa. Sau khi nhận được tiền, H1 đến quầy tạp hóa của anh Hoàng Văn L ở thôn T, xã T nhờ chuyển tiền vào tài khoản của T. Sau khi thấy số tài khoản của mình báo nhận được 300.000 đồng, T lấy số ma túy đã mua được trước đó ra chia một ít cho vào một gói khác. Khoảng 05 phút sau, H1 tới nhà T, T đưa gói ma túy cho H1 rồi đi vào nhà, còn H1 điều khiển xe mô tô mang ma túy đi giao cho “K”. H1 đang trên đường đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình, thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phạm Vũ T, phát hiện và thu giữ một gói ma túy đá ở trên bàn ở phòng khách của nhà T.
Vật chứng thu giữ và xử lý gồm: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, thu giữ 0,102gam ma túy ở Mai Văn H1 và tại nhà của T; 01 xe mô tô BKS 73F1-659.55; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 của Mai Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của T. Đã xử lý trả lại cho chị Đoàn Thị T2 01 xe mô tô BKS 73F1-659.55, các vật chứng còn lại hiện chưa xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 388/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt quả tang đối với Mai Văn H1 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,039g; Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Phạm Vũ T là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,063g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
2
Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSBT ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch truy tố bị cáo Phạm Vũ T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động là phương tiện phạm tội của bị cáo và 01 điện thoại di động của Mai Văn H1 liên quan đến hành vi phạm tội; Về biện pháp tư pháp: buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 300.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước; Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, Bị cáo trình bày không có gì để nói, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, vắng mặt những người liên quan, nhưng xét quá trình điều tra đã thu thập được lời khai của người này, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm cản trở việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 20 giờ ngày 30/3/2024, Phạm Vũ T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác với khối lượng 0,039 gam, loại Methamphetamine để lấy số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, T còn tàng trữ tại nhà của mình khối lượng 0,063 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý với tổng
3
khối lượng được xác định là 0,102 gam ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 là đúng quy định pháp luật.
[3] Xét mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng: Bị cáo là người đủ năng lực để nhận thức ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, là mặt hàng được Nhà nước độc quyền quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy, bảo vệ sức khỏe của người dân và ngăn ngừa các tội phạm do sử dụng ma túy, nhưng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước, mà còn đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, gây thiệt hại về kinh tế cho nhiều gia đình và làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bảo đảm đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quá trình nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Về quá trình nhân thân, bị cáo là người có nhân thân không tốt, đã từng bị xử phạt hành chính về các hành vi trộm cắp tài sản, đánh người và đánh bạc.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được nêu ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: mặc dù khối lượng ma tuý bị cáo đã bán và tàng trữ nhằm mục đích mua bán là không quá lớn, nhưng việc trao đổi để mua bán ma túy thể hiện tính ngang nhiên, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù với thời hạn đủ dài tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với nhân thân của bị cáo mới có tác dụng răn đe và giáo dục để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời bảo đảm việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy trên địa bàn.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét Bị cáo bị áp dụng hình phạt tù và hiện đang có con nhỏ, không có nghề nghiệp tạo thu nhập ổn định nên thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét vỏ bao gói hoàn trả sau giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Đối với 02 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus là phương tiện phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 là tài sản của Mai Văn H1 và được H1 sử dụng liên quan đến tội phạm và còn giá trị sử dụng nên cũng cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với việc xử lý vật chứng
4
của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[8] Về biện pháp tư pháp: Xét số tiền 300.000 đồng bị cáo T thu được từ việc bán ma tuý là tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu để sung vào Ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý";
- Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; các điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Phạm Vũ T 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/3/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 12/9/2024 để đảm bảo việc thi hành án (theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Vũ Thạch .
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín có số niêm phong 388/KL-KTHS, bên trong phong bì chứa vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng có gắn thẻ sim số 0818.345.333 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 đã qua sử dụng.
(Các vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch và có đặc điểm theo mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng được lập giữa Cơ quan điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ngày 01/8/2024).
- Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phạm Vũ T phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo Phạm Vũ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/9/2024)./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Quảng Bình;
- - VKSND tỉnh Quảng Bình;
- - PV 06 (Phòng HSNV CAQB);
- - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- - VKSND huyện Bố Trạch;
- - CA huyện Bố Trạch;
- - THADS huyện Bố Trạch;
- - Bị cáo; NLQ;
- - THA hình sự; Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Quang Minh |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA SỐ 73-2024 PHẠM VŨ T - K1 Đ251
