Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:73 /2024/HS -ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Đình Phấn
    • Ông Lê Văn Hùng
  • Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Vũ Tiến D, sinh ngày 23/4/1990; Giới tính: Nam; Nơi sinh và nơi cư trú: xóm A, xã X (xã X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Vũ Văn T, sinh năm: 1962, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1960. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/9/2009, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 29 tháng 12 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2024, đến ngày 18/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
    • 2.1: anh Phạm Văn T1, sinh năm 2000
    • Nơi cư trú: xóm B, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định.
    • 2.2: anh Phạm Minh T2, sinh năm 2000
    • Nơi cư trú: xóm B, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định.
  3. Người làm chứng:
    • 3.1: anh Phạm Trường T3, sinh năm 1965
    • Nơi cư trú: xóm B, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định.
    • 3.2: anh Mai Văn Đ, sinh năm 1988
    • Nơi cư trú: xóm H, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định.
    • 3.3: anh Vũ Viết N, sinh năm 2000
    • Nơi cư trú: xóm A, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định.
    • (anh T1, anh T2, anh T3, anh Đ, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Tiến D, sinh năm 1990 và anh Phạm Văn T1, Phạm Minh T2, cùng sinh năm 2000 đều trú tại xóm B, xã X (X cũ), huyện X, tỉnh Nam Định quen nhau từ trước. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên từ tháng 6/2022 đến tháng 4/2024, anh T1 đã 08 lần vay tiền của D, tổng số tiền là 29.000.000 đồng với mức lãi suất 5.000 đồng/1triệu/1ngày, tương đương mức lãi suất 180%/năm, gấp 09 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Anh T2 vay 03 lần của D tổng số tiền là 30.000.000 đồng với mức lãi suất là 4.000 đồng/1triệu/1ngày, tương đương mức lãi suất 144%/năm, gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Sau khi thỏa thuận xong lãi suất thì D chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng MNgân hàng V số [...] mang tên Vũ Tiến D đến số tài khoản của anh T1 và anh T2. Sau đó, anh T1, T2 thanh toán trả tiền gốc, tiền lãi trực tiếp bằng tiền mặt hoặc qua chuyển khoản cho D. D tính lãi theo tháng, người vay sẽ trả tiền lãi vào ngày trùng ngày vay tiền của tháng tiếp theo.

Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan CS ĐT Công an huyện X đã xác định rõ các khoản cho vay, số tiền lãi đã thu, số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của Vũ Tiến D, cụ thể như sau:

* Các khoản D cho anh Phạm Văn T1 vay:

  • + Lần thứ nhất: Ngày 03/6/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 6.000.000 đồng, với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Sau 02 tháng anh T1 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi đã trả là 1.800.000 đồng.
  • Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền lãi hợp pháp người cho vay được hưởng là 20%/năm của khoản tiền vay (tức tiền gốc). Trong trường hợp này, D được hưởng số tiền lãi hợp pháp của 02 tháng là: (6.000.000 đồng x 20% : 12 tháng) x 2 = 200.000 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính là: 1.800.000 đồng – 200.000 đồng = 1.600.000 đồng.
  • Tương tự cách tính như trên đối với các lần vay khác như sau:
  • + Lần thứ hai: Ngày 19/7/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 3.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Sau 01 tháng anh T1 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi đã trả là 450.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 450.000 đồng – (3.000.000 đồng x 20% : 12 tháng) = 400.000 đồng.
  • + Lần thứ ba: Ngày 06/9/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 15/5/2023, anh T1 đã trả 08 tháng tiền lãi là 6.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.000.000 – (5.000.000 đồng x 20% :12 tháng) x 8 = 5.333.333 đồng.
  • + Lần thứ tư: Ngày 31/10/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 3.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 15/5/2023, anh T1 đã trả 07 tháng tiền lãi là 3.150.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.150.000 đồng – (3.000.000 đồng x 20% :12 tháng) x 7 = 2.800.000 đồng.
  • + Lần thứ năm: Ngày 15/12/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 2.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 15/5/2023, anh T1 đã trả 05 tháng tiền lãi là 1.500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.500.000 – (2.000.000 đồng x20% :12 tháng) x 5 = 1.333.333 đồng.
  • + Lần thứ sáu: Ngày 14/3/2023, D cho anh Phạm Văn T1 vay 3.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 15/5/2023, anh T1 đã trả 02 tháng tiền lãi là 900.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 900.000 đồng – (3.000.000 đồng x 20% :12 tháng) x 2 = 800.000 đồng.
  • + Lần thứ bảy: Ngày 15/5/2023, D cho anh T1 vay 2.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày.
  • Do anh T1 chưa trả tiền gốc các khoản vay thứ 3, 4, 5, 6 nên DT1 thống nhất cộng tiền gốc các khoản vay thứ 3, 4, 5, 6 và 7 lại thành khoản vay 15.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến tháng 2/2024, anh T1 đã trả 09 tháng tiền lãi là 20.250.000 đồng. Số tiền tiền thu lợi bất chính là: 20.250.000 đồng – (15.000.000 đồng x 20% :12 tháng) x 9 = 18.000.000 đồng.
  • + Lần thứ tám: Ngày 31/5/2023, D cho anh T1 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 07/2/2024, anh T1 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi 08 tháng đã trả là 6.000.000 đồng. Số tiền tiền thu lợi bất chính là: 6.000.000 đồng – (5.000.000 đồng x20% :12 tháng) x 8 = 5.333.334 đồng.
  • Ngày 14/4/2024, sau khi không thấy anh T1 thanh toán tiền gốc và tiền lãi các khoản đã vay (3, 4, 5, 6, 7) nên D đến nhà anh T1 đòi. Do T1 không có tiền trả nên bác của anh T1 là ông Nguyễn Trường T4, sinh năm 1963, trú tại Xóm B, xã X trả hộ anh T1 số tiền gốc 15.000.000 đồng. D nhận 15.000.000 đồng và cho anh T1 02 tháng tiền lãi (tháng 3, 4/2024).
  • Như vậy, Vũ Tiến D đã cho anh Phạm Văn T1 08 lần vay tiền với tổng số tiền gốc là 29.000.000 đồng. Số tiền lãi D đã thu của anh T1 là 40.050.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 35.600.000 đồng.

* Các khoản D cho anh Phạm Minh T2 vay:

  • + Lần thứ nhất: Ngày 04/7/2022, D cho anh Phạm Minh T2 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm). Đến tháng 6/2023, anh T2 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi 11 tháng là 6.600.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.600.000 đồng – (5.000.000 đồng x20% :12 tháng) x 11 = 5.683.333 đồng.
  • + Lần thứ hai: Ngày 15/8/2022, D cho anh Phạm Minh T2 vay 15.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến tháng 3/2023, anh T2 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi 07 tháng là 12.600.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 12.600.000 đồng – (15.000.000 đồng x20% :12 tháng) x 7 = 10.850.000 đồng.
  • + Lần thứ ba: Ngày 12/10/2022, D cho anh Phạm Văn T1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến tháng 3/2023, anh T2 đã trả số tiền gốc và số tiền lãi 05 tháng là 6.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.000.000 đồng – (10.000.000 đồng x 20% :12 tháng) x 5 = 5.166.667 đồng.
  • Tổng 03 lần D cho anh Phạm Minh T2 vay 30.000.000 đồng. Số tiền lãi D đã thu của anh T2 là 25.200.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 21.700.000 đồng.

Nhận được đơn trình báo của người liên quan tố cáo hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Vũ Tiến D, Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra, xác minh. Ngày 09/5/2024, Vũ Tiến D đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện X đầu thú và khai nhận hành vi cho vay lãi nặng đồng thời giao nộp 02 bản sao kê tài khoản ngân hàng M số [...] và Ngân hàng V số [...] mang tên D cùng 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 150, vỏ ngoài màu xám đen, bên trong lắp sim thuê bao 0913339998.

Quá trình làm việc với anh Phạm Văn T1, anh Phạm Minh T2, Cơ quan CSĐT thu giữ của anh T1 03 bản sao kê tài khoản các Ngân hàng M1; VP bank số C; TP bank số D3; thu giữ của anh T2 01 bản sao kê tài khoản Ngân hàng T5 số 03979882301 đã giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản của Vũ Tiến D.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Tiến D, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X, Vũ Tiến D đã khai nhận hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để thu lợi bất chính như đã nêu trên. Về nguồn gốc số tiền dùng cho vay, D khai do lao động tích góp mà có.

Về số tiền gốc 59.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp 7.950.000 đồng, sau khi nhận từ anh T1, anh T2, D đã chi tiêu cá nhân hết.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay, Vũ Tiến D đã trả lại cho anh Phạm Văn T1 và anh Phạm Minh T2. Anh T1, anh T2 đã nhận và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Cáo trạng số 69/CT-VKSXT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Vũ Tiến D về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Vũ Tiến D phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Căn cứ khoản 1 điều 201; điểm s, b khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36; Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Tiến D từ 18 tháng đến 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được trừ 09 ngày đã tạm giữ tạm giam quy đổi thành 27 ngày Cải tạo không giam giữ.

- Giao Vũ Tiến D cho UBND xã X giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành Cải tạo không giam giữ.

Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Buộc Vũ Tiến D nộp lại 66.950.000 đ ( gồm 59.000.000 đồng tiền gốc và số tiền lãi 7.950.000đ tương ứng 20%/năm mà D đã nhận của anh T1 và anh T2) để sung ngân sách Nhà nước. Tịch thu chiếc điện thoại di động N1 150 có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường sung ngân sách Nhà nước. Miễn phạt tiền bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: lời khai của anh Phạm Văn T1, Phạm Minh T2, Phạm Trường T3 và các bản sao kê chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng giữa anh T1, anh T2 với D. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Vũ Văn D1 có hành vi cho anh Phạm Văn T1 vay 8 lần với số tiền 29.000.000đồng với mức lãi 5.000đồng/1 triệu/1 ngày đã thu lợi bất chính 35.600.000 đồng. cho anh Phạm Minh T2 vay 3 lần số tiền 30.000.000 đồng với mức lãi xuất 4.000.000đồng/1 triệu/1 ngày đã thu lợi bất chính 21.700.000 đồng

Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo đã xâm hại tới trật tự quản lý kinh tế cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Do vậy phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức án thích đáng mới có tác dụng cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung ngoài xã hội.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Tự nguyện khắc phục m[tj phần hậu quả, sau khi phạm tội đã đầu thú. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy chỉ cần xử phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát trong thời gian cải tạo cũng đủ sức răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo.

[4]. Số tiền 59.000.000 đồng D1 cho anh T1 vay và 29.000.000 đồng, cho anh T2 vay 30.000.000₫ vay lãi xuất nặng là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội sẽ truy thu sung Ngân sách Nhà nước

Số tiền lãi 20% D1 thu được của 59.000.000 đồng cho vay có lãi tính theo Bộ luật dân sự 2015 là 7.950.000đ là số tiền do phạm tội mà có sẽ tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Chiếc điện thoại NOKIA 150 đã thu của bị cáo là phương tiện phạm tội sẽ tịch thu sung ngân sách nhà nước

Số tiền 35.600.000đ bị cáo thu lợi bất chính của anh T1 và 21.700.000đ bị cáo thu lợi bất chính của anh T2 cơ quan điều tra đã trả cho anh T1 và anh T2 nên không đặt ra xem xét nữa.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo và trích khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì bị cáo hoàn cảnh gia đình bị cáo thực sự có khó khăn.

[5]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
    • - Tuyên bố Vũ Tiễn D2 phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
    • - Xử phạt cáo Vũ Tiến D 18 tháng Cải tạo không giam giữ được trừ 09 ngày đã tạm giữ tạm giam quy đổi thành 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Giao Vũ Tiến D cho UBND xã X theo dõi, giám sát trong thời gian chấp hành Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Miễn phạt tiền bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ cho bị cáo.
  2. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Truy thu của Vũ Tiến D 59.000.000đ tiền gốc và 7.950.000đ tiền lãi theo mức lãi xuất 20%/năm của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Tịch thu chiếc điện thoại di động N1 150 có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để sung ngân sách Nhà nước.
  3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T1, anh T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Nam Định;
  • -VKSND tỉnh+huyện;
  • -Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • -Công an huyện Xuân Trường;
  • -UBND xã Xuân Giang;
  • -Bị cáo; người có QL&NV liên quan;
  • -Lưu HS+VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ V D cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger