Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-PT

Ngày: 27 tháng 5 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu, bà Nguyễn Ngọc Giao.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M do có kháng cáo của bị cáo N và M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thị Tuyết N (tên gọi khác N1), sinh ngày 30/5/1995; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Hồng T và bà Nguyễn Thị H; có chồng Huỳnh Thiện T1 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo Phạm Thị Tuyết N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2023 đến ngày (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Tuyết N có luật sư Nguyễn Quốc K – Công ty L3 Đoàn luật sư tỉnh An Giang. Địa chỉ: Số A, L, phường M, TP L, tỉnh An Giang (có mặt).

  3. Nguyễn Văn M, sinh ngày 15/11/1993; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Thợ cửa sắt; Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Võ Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo Nguyễn Văn M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2023 đến nay (có mặt).

2

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M có luật sư Huỳnh Hồng D – Văn phòng luật sư Huỳnh Hồng D thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Số D, T, phường M, TP L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Bà Trần Thị N2; Triệu Ngô An S (vắng mặt)

(Trong vụ này, có bị cáo Phạm Thị Bích V không có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại quán bún “K” thuộc ấp M, xã M, huyện C, có bán số đề ăn thua bằng tiền. Đ2 - Công an huyện C phối hợp với Công an xã M tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Phạm Thị Bích V đang có hành vi bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền nên lực lượng tiến hành lập biên bản và thu giữ 02 tờ giấy có ghi nhiều số đề, 01 điện thoại di động OPPO A55, số tiền 1.130.000 đồng tiền Việt Nam.

Qua làm việc, V khai nhận bắt đầu ghi bán số lô, số đề từ ngày 01/4/2023 đến ngày 10/4/2023 cho nhiều người dân xung quanh khu vực ấp M, xã M, huyện C. Hằng ngày, V bán số lô, số đề theo các đài xổ số kiến thiết khu vực miền N và miền B. Đối với đài miền N số A (số đầu), nếu người mua con số với số tiền 1.000 đồng, nếu kết quả xổ số trúng thì 1.000 đồng trúng 80.000 đồng và số B 1.000 đồng trúng 80.000 đồng. Số lô 02 con 1.000 đồng trúng 80.000 đồng. Số đá 02 con, nếu người mua con số 1.000 thì thành tiền là 28.000 đồng, nếu trúng thì 1.000 đồng trúng được 700.000 đồng. Số đá 03 con, nếu người mua con số 1.000 thì thành tiền là 84.000 đồng, nếu trúng thì 1.000 đồng trúng được 700.000 đồng. Đối với đài miền B: số đầu 02 con nếu người mua con số với số tiền 1.000 đồng thì thành tiền 4.000 đồng, nếu kết quả xổ số trúng thì 1.000 đồng trúng 80.000 đồng, S1 lô 02 con 1.000 đồng thì thành tiền 22.000 đồng, nếu kết quả xổ số trúng thì 1.000 đồng trúng được 80.000 đồng. Số đá 02 con, nếu người mua con số 1.000 thì thành tiền là 48.000 đồng, nếu trúng thì 1.000 đồng trúng được 700.000 đồng. Số đá 03 con, nếu người mua con số 1.000 thì thành tiền là 144.000 đồng, nếu trúng thì 1.000 đồng trúng được 700.000 đồng. Sau khi tổng hợp V nộp phơi đề (qua Z) cho Phạm Thị Tuyết N và Nguyễn Văn M để hưởng huê hồng. Việc hưởng huê hồng được thỏa thuận 10% trên tổng số tiền nộp phơi. Đồng thời, khi có kết quả thắng thua V trực tiếp thanh toán tiền với người mua số lô, số đề trúng, rồi V thanh toán tiền lại với N sau. Cụ thể:

  • Ngày 08/4/2023, V ghi bán số lô, số đề cho nhiều người theo kết quả đài xổ số kiến thiết Long An được tổng số tiền trên phơi là 965.000 đồng, người mua không trúng. Tổng cộng 965.000 đồng. V nộp phơi cho N hưởng huê hồng 96.000 đồng.
  • Ngày 09/4/2023, V ghi bán số lô, số đề cho nhiều người theo kết quả đài xổ số kiến thiết Kiên Giang với số tiền 4.047.500 đồng, Tiền Giang với số tiền 600.000 đồng, Đ với số tiền 600.000 đồng, tổng số tiền trên phơi của 03 đài là 5.247.500 đồng và người mua trúng 2.800.000 đồng thành tiền 8.047.500đồng.

3

Ghi bán số lô, số đề đài Hà Nội tổng số tiền trên phơi 1.652.000 đồng và người mua trúng 830.000 đồng thành tiền 2.482.000 đồng. Tổng cộng 10.529.500 đồng. V nộp phơi cho N và hưởng huê hồng 689.000 đồng.

Ngày 10/4/2023, V ghi bán số lô, số đề cho nhiều người theo kết quả đài xổ số kiến thiết Đồng Tháp được tổng số tiền trên phơi là 428.000 đồng, chưa có kết quả xổ số. V chưa nộp phơi cho N nên chưa hưởng huê hồng.

Trong thời gian bán số lô, số đề V thu lợi 2.885.000 đồng và đã nộp lại, số tiền 1.130.000 đồng thu giữ của V là tiền bán số đề có được, điện thoại di động OPPO A55 V sử dụng vào việc bán số.

Quá trình điều tra, Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M khai nhận: Từ ngày 08/4/2023 đến ngày 10/4/2023 N nhận phơi số lô, số đề của các tài khoản Zalo tên: B1 (của Phạm Thị Bích V), Ngọc B, Nguyễn Đ1, Nguyễn Thanh T3 (Mới), Tịnh T4, Thu N3, Thuần L (10), T5, L1, L2, M1, Cau T6, Bich T7, N4, zalo không tên và cho những người bán hưởng huê hồng (đối với đài miền N: Số đầu A, B trả huê hồng từ 8 đến 10% trên tổng số tiền nộp, số lô 02 con trả huê hồng từ 3 đến 5% tổng số tiền nộp, số đá nhận 1000 đồng tính thành 28.000 đồng còn người bán cao hơn thì hưởng.Đối với đài miền B: Số đầu A, B trả huê hồng từ 8 đến 10%, số lô 02 con giao phơi 1000 đồng tính thành 22.000 đồng, số đá giao phơi 1000 đồng tính thành 48.000 đồng). Tổng cộng N đã nhận phơi đề với số tiền 183.473.500 đồng. Sau khi nhận phơi đề của người chơi N đưa lại cho M, khi có kết quả xổ số thì M tính số tiền trên phơi, số tiền trúng (nếu có) của từng phơi, tiền thắng thua của từng người rồi đưa lại cho N. Cụ thể:

  • Ngày 08/4/2023, N nhận phơi số lô, số đề của đài xổ số Long An của Phạm Thị Bích V với số tiền trên phơi 965.000 đồng, người mua không trúng. N tự cộng tiền phơi đề.
  • Ngày 09/4/2023, N, M nhận phơi số lô, số đề của các đài xổ số Kiên Giang, Tiền Giang, Đ và đài Hà Nội của các tài khoản zalo: Bui N (của Phạm Thị Bích V) với số tiền 10.529.000 đồng (số tiền trên phơi 6.899.500 đồng, số tiền trúng 3.630.000 đồng), zalo không ghi tên với số tiền 6.660.000 đồng (số tiền trên phơi 3.220.000 đồng, số tiền trúng 3.440.000 đồng), M1 với số tiền 21.435.000 đồng (số tiền trên phơi 7.035.000 đồng, số tiền trúng 14.400.000 đồng), Ngọc B với số tiền 1.770.000 đồng (số tiền trên phơi 1.770.000 đồng, người mua không trúng), Nguyễn Đ1 với số tiền 12.556.000 đồng (số tiền trên phơi 7.356.000 đồng, số tiền trúng 5.200.000 đồng), Nguyễn Thanh T3 (Mới) với số tiền 18.450.000 đồng (số tiền trên phơi 8.050.000 đồng, số tiền trúng 10.400.000 đồng), Tịnh T4 với số tiền 3.260.000 đồng (số tiền trên phơi 2.860.000 đồng, số tiền trúng 400.000 đồng), Thu N3 với số tiền 4.434.000 đồng (số tiền trên phơi 3.154.000 đồng, số tiền trúng 1.280.000 đồng), Thuần L (10) với số tiền 1.375.000 đồng (số tiền trên phơi 1.375.000 đồng, người mua không trúng), T5 với số tiền 500.000 đồng (số tiền trên phơi 500.000 đồng, người mua không trúng), V với số tiền 6.635.000 đồng (số tiền trên phơi 4.235.000 đồng, số tiền trúng 2.400.000 đồng). Tổng cộng N, M đã nhận phơi đề với số tiền 87.604.500 đồng.
  • Ngày 10/4/2023, N, M nhận phơi số lô, số đề của các đài Xổ số Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và đài H2 của các tài khoản zalo: L1 với số tiền 370.000

4

đồng (số tiền trên phơi 370.000 đồng, người mua không trúng), L2 với số tiền 7.991.000 đồng (số tiền trên phơi 6.231.000 đồng, số tiền trúng 1.760.000 đồng), M1 với số tiền 19.034.000 đồng (số tiền trên phơi 7.434.000 đồng, số tiền trúng 11.600.000 đồng), Ngọc B với số tiền 2.635.000 đồng (số tiền trên phơi 1.035.000 đồng, số tiền trúng 1.600.000 đồng), Nguyễn Đ1 với số tiền 4.220.000 đồng (số tiền trên phơi 3.420.000 đồng, số tiền trúng 800.000 đồng), Nguyễn Thanh T3 (Mới) với số tiền 10.030.000 đồng (số tiền trên phơi 6.830.000 đồng, số tiền trúng 3.200.000 đồng), Tịnh T4 với số tiền 4.137.000 đồng (số tiền trên phơi 2.617.000 đồng, số tiền trúng 1.520.000 đồng), Thu N3 với số tiền 7.116.000 đồng (số tiền trên phơi 5.216.000 đồng, số tiền trúng 1.900.000 đồng), Thuần L (10) với số tiền 2.543.000 đồng (số tiền trên phơi 2.143.000 đồng, số tiền trúng 400.000 đồng), Phat T8 với số tiền 21.370.000 đồng (số tiền trên phơi 17.370.000 đồng, số tiền trúng 4.000.000 đồng), T5 với số tiền 250.000 đồng (số tiền trên phơi 250.000 đồng, người mua không trúng), Cau T6 với số tiền 800.000 đồng (số tiền trên phơi 800.000 đồng, người mua không trúng), Bich T7 với số tiền 4.100.000 đồng (số tiền trên phơi 4.100.000 đồng, người mua không trúng), N4 với số tiền 10.308.000 đồng (số tiền trên phơi 10.308.000 đồng, chưa có kết quả xổ số). Tổng cộng N, M đã nhận phơi đề với số tiền 94.904.000 đồng. Trong lúc M đang cộng tiền phơi số lô, số đề cho N tại nhà N thuộc khóm V, thị trấn Vĩnh Thạnh T thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Trong thời gian nhận phơi đề ăn thua với V và nhiều người khác từ ngày 26/3/2023 đến ngày 10/4/2023 N thu lợi 24.971.000 đồng và đã nộp lại. Riêng M trong thời gian tiếp giúp cộng phơi đề cho N, được N trả công bằng việc dẫn đi ăn uống và khi cần tiền thì N cho mượn, số tiền 5.864.000 đồng thu giữ của N là tiền khám bệnh không liên quan đến hoạt động số đề, điện thoại di động Vivo 1935, điện thoại di động Iphone Xr N5, M dùng để liên lạc hàng ngày và phục vụ việc ghi bán số lô, số đề.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55, 01 điện thoại di động hiệu Vivo, 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr, 01 tờ A4 ghi thông tin liên quan đến hoạt động bán số đề, 01 tờ giấy lịch mặt sau có ghi các con số đề bán ngày 08/4/2023, 01 tờ giấy tập ghi bán số đề ngày 10/4/2023 và số tiền 34.850.000 đồng.

Căn cứ kết luận giám định số 393/KL-KTHS(KSĐT-GT) ngày 15/9/2023 của Phòng K1-Công an tỉnh A, xác định:

Tìm thấy dữ liệu nghi vấn có liên quan, lưu trữ trong 03 điện thoại di động (ký hiệu: A1, A2, A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 51 trang A4 và 01 đĩa DVD có tổng dung lượng dữ liệu 2,80 GB.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định:

5

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M, Phạm Thị Bích V phạm tội “Đánh bạc”.

[1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

[2]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án còn xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích V 09 tháng tù cho hưởng án treo; xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/02/2024, bị cáo Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; xin cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Bị cáo N, bị cáo M vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, bị cáo N, bị cáo M xin giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo. Riêng bị cáo M có bổ sung nội dung kháng cáo xin xem xét lại trách nhiệm liên đới của bị cáo đối với số tiền 157.537.500 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo N và bị cáo M về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; chấp nhận kháng cáo của bị cáo M về việc không buộc trách nhiệm liên đới đối với số tiền thu lợi bất chính.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết N 03 năm tù, bị cáo Nguyễn Văn M từ 03 năm tù về tội “Đánh bạc”.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; buộc bị cáo N nộp số tiền thu lợi bất chính phải chịu 157.537.500 đồng. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo N phát biểu và có quan điểm: Trước khi phạm tội bị cáo N là người có nhân thân tốt; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo N được chính quyền địa phương xác nhận có chấp hành tốt tại địa phương, có nhiều hoạt động từ thiện; hiện tại bị cáo có 02 con nhỏ, phải chăm sóc hàng ngày, chồng ly dị; đối với số tiền buộc thu lợi của ngày 9/4/2023 chỉ có 46.454.000đ và ngày 10/4/202023 chỉ 68.124.000đ; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền thu lợi bất chính cho hợp lý; không buộc trách nhiệm liên đới của bị cáo M cùng bị cáo N

6

mà Viện kiểm sát đề nghị là không đúng, nên cân nhắc xem xét một mức án phù hợp cho bị cáo N.

Bị cáo N nhất trí với bản luận cứ bào chữa của Luật sư và không có bào chữa hoặc tranh luận gì khác.

Người bào chữa cho bị cáo M phát biểu và có quan điểm: Trước khi phạm tội bị cáo M là người có nhân thân tốt; hành vi phạm tội của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội; trong vụ án này, bị cáo M chỉ giúp sức cho bị cáo N dẫn đi ăn uống, cho bị cáo M mượn tiền khi cần thiết, nên không có hưởng lợi gì cả; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M, có thể cho bị cáo M hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo M trở thành người tốt cho xã hội.

Bị cáo M nhất trí với bản luận cứ bào chữa của Luật sư và không có bào chữa hoặc tranh luận gì khác.

Phần đối đáp của Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đề nghị ban đầu; bởi vì các bị cáo bị truy tố tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, có một tình tiết tăng nặng tại Điều 52 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện hưởng án treo; đối với khoản tiền thu lợi bất chính cấp sơ thẩm buộc bị cáo M cùng chịu chưa đúng pháp luật, chỉ cần buộc bị cáo N chịu trách nhiệm chính.

Lời nói sau cùng các bị cáo N, M xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo N, bị cáo M làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo N, và M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo khác không có kháng cáo, lời khai người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M đã có hành vi nhiều lần đánh bạc, dưới hình thức nhận phơi ghi số lô, số đề ăn thua bằng tiền, cụ thể.

Ngày 09/4/2023, theo kết quả đài xổ số kiến thiết Kiên Giang, Tiền Giang, Đ, Hà Nội có tổng số tiền trên phơi là 46.454.500 đồng, người mua trúng

7

41.150.000 đồng, tổng cộng 87.604.500 đồng; ngày 10/4/2023, theo kết quả đài xổ số kiến thiết Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội có tổng số tiền trên phơi là 68.124.000 đồng, người mua trúng là 26.780.000 đồng; tổng cộng 94.904.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của bị cáo N, M là 182.508.500 đồng.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội.

Trong vụ án này, các bị cáo tham gia đánh bạc nhiều lần, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc mỗi lần trên 5 triệu đồng; vai trò của bị cáo N là chủ mưu cầm đầu đường dây ghi số lô đề, nên hành vi của bị cáo N giữ vai trò chính của vụ án. Đối với bị cáo M chỉ giúp sức cộng tiền phơi số lô, số đề cho bị cáo N, được N dẫn đi ăn và cho bị cáo M vay tiền không lãi suất. Bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng với vai trò đồng phạm giúp sức, không hưởng lợi bằng vật chất, nhưng được bị cáo N dẫn đi ăn uống, cho mượn tiền không tính lãi.

Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Đây là vụ án thuộc đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người có nhân thân tốt; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, đã tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả; cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ.

Nhưng xét về hành vi của bị cáo N giữ vai trò chính trong vụ án, mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo N có tính khoan hồng; cấp sơ thẩm xử bị cáo N là nhẹ chưa tương xứng với hành vi phạm tôi của bị cáo, nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị, xét nguyên tắc có lợi cho bị cáo N nên Hội đồng xét xử cần giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo N như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đối với hình phạt 03 năm tù của bị cáo M (mức khởi điểm mà điều luật quy định) là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra, bị cáo M kháng cáo không có tình tiết mới, bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ, 1 tình tiết tăng nặng, nên không thể áp dụng Điều 54 Bộ Luật hình sự, xử dưới khung hình phạt, do đó cần giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo M mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.

[5] Về biện pháp tư khác: Đối với số tiền dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính, kết quả điều tra đã xác định: Ngày 09/4/2023, N thu lợi số tiền sau khi đã trả tiền trúng thưởng cho người mua đề là 87.604.500, riêng ngày 10/4/2023, N, M nhận phơi số đề tổng cộng được 94.904.000đ, khi M đang cộng phơi đề thì bị

8

bắt quả tang, mặc dù chưa chung tiền cho người thắng, nhưng đây vẫn được xem là số tiền đánh bạc do các bị cáo đã chấp nhận thắng thua với những người mua đề. Do đó, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính của N, M trong các ngày 09, ngày 10/4/2023 là: 182.508.500 đồng.

Xét thấy, số tiền thu lợi bất chính từ việc ghi bán số lô, số đề bị cáo N thừa nhận có đãi ăn cho bị cáo M và thỉnh thoảng cho bị cáo M mượn tiền khi cần thiết, không tính lãi; do đó, cần buộc bị cáo N phải nộp lại số tiền dùng để đánh bạc và tiền thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc, số tiền 182.508.500 đồng, khấu trừ số tiền 24.971.000 đồng bị cáo N đã giao nộp trong quá trình điều tra. Do đó, buộc bị cáo N và M còn phải nộp số tiền 157.537.500 đồng.

Luật cứ mà Luật sư bào chữa cho bị cáo N, bị cáo M đưa ra để yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo là không đúng pháp luật, tại phiên tòa cũng không có chứng cứ mới; đối với kháng cáo của bị cáo M về trách nhiệm liên đới mà Luật sư nại ra có cơ sở nên được chấp nhận, như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo N không được chấp nhận nên bị cáo N phải chịu án phí, đối với kháng cáo của bị cáo M được chấp nhận phần trách nhiệm liên đới, nên bị cáo M không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tuyết N, bị cáo Nguyễn Văn M về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M về việc không buộc chịu trách nhiệm liên đới cùng bị cáo N phải nộp số tiền thu lợi bất chính 157.537.500 đồng.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về trách nhiệm liên đới.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Văn M tội “Đánh bạc”.

[1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết N: 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

[2]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

9

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M: 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

[3]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Buộc bị cáo Phạm Thị Tuyết N nộp số tiền dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc, số tiền 182.508.500 đồng, khấu trừ số tiền 24.971.000 đồng bị cáo N đã giao nộp trong quá trình điều tra, bị cáo N còn phải nộp số tiền 157.537.500đ (một trăm năm mươi bảy triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Thị Tuyết N phải chịu 200.000đ, bị cáo Nguyễn Văn M không phải chịu.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (2);
  • - Cục THADS tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - TAND huyện (2);
  • - Công an huyện (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - PV 06 (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu Tòa, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 73/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ng và M - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger