Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-PT

Ngày: 17/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Bà Đậu Thị Quy và bà Lê Thị Thái Lan;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh–Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 74/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Ung Thị Phương T, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Ung Thị Phương T, sinh ngày 26/9/1989 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ung Văn T1, sinh năm 1963 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1963; Chồng Trịnh Đình Q, sinh năm 1987; Có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/7/2023, bị cáo Ung Thị Phương T thuê lại quán cà phê Hoàng V của ông Nguyễn Xuân S ở địa chỉ: H L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên mục đích để buôn bán cà phê, nước giải khát. Trong thời gian kinh doanh quán nước, bị cáo Ung Thị Phương T thấy một số khách đến uống nước còn chơi bài ăn tiền nên từ khoảng đầu tháng 12/2023, bị cáo Ung Thị Phương T đồng ý để cho khách đến quán uống nước, uống cà phê và đánh bạc bằng hình thức đánh bài được thua bằng tiền tại quán để tăng thêm số người đến quán, tăng thêm doanh số bán nước và bán bài tây phục vụ cho việc đánh bạc nhằm thu lợi, bị cáo Ung Thị Phương T mua bài tây với giá 5.700 đồng/01 bộ, bán lại cho những người đánh bạc tại quán với giá 20.000 đồng/01 bộ, thu lợi 14.300 đồng/01 bộ. Tính từ khoảng đầu tháng 12/2023 đến ngày 22/12/2023, bị cáo Ung Thị Phương T đã bán 100 bộ bài tây cho các con bạc tại quán thu lợi 1.430.000 đồng, doanh thu bán nước tăng từ khoảng 2.800.000 đồng đến 2.900.000 đồng/01 ngày lên khoảng 5.000.000 đồng/01 ngày.

Lúc 13 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên bắt quả tang tại quán C của bị cáo Ung Thị Phương T nhiều đối tượng đang tham gia đánh bạc cụ thể như sau:

Chiếu bạc thứ nhất: Anh Trần Văn T3, anh Võ Quốc T4, anh Võ Hoàng D và anh Nguyễn Văn T5 cùng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức đánh bài tiến lên: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 160.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc tiền dùng để đánh bạc gồm anh Võ Hoàng D số tiền 590.000 đồng, anh Trần Văn Tổng s tiền 200.000 đồng, anh Võ Quốc T4 số tiền 210.000 đồng, anh Nguyễn Văn T5 số tiền 257.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.417.000 đồng.

Chiếu bạc thứ hai: Anh Nguyễn Hồng P, anh Nguyễn Bạch Chí T6, anh Nguyễn Thanh T7 và anh Võ Thái V1 cùng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức đánh bài phỏm: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.180.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc tiền dùng để đánh bạc gồm anh Nguyễn Thanh T7 số tiền 1.630.000 đồng, anh Võ Thái V1 số tiền 1.003.000 đồng, anh Nguyễn Bạch Chí T6 số tiền 600.000 đồng, anh Nguyễn Hồng P số tiền 67.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 4.480.000 đồng.

Chiếu bạc thứ ba: Bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, bị cáo Lê Đức T2 cùng hai người tên B và T8 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) cùng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức binh xập xám: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 260.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc tiền dùng để đánh bạc gồm bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1 số tiền 4.619.000 đồng, bị cáo Lê Đức T2 số tiền 1.072.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 5.951.000 đồng.

Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với các bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2 về hành vi đánh bạc, thu giữ tiền và tang vật tại các chiếu bạc và số tiền 5.600.000 đồng của bị cáo Ung Thị Phương T.

Các bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2 và Ung Thị Phương T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo Lê Đức T2 được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba vì có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia từ năm 1979-1989; Ngày 28/4/2008, bị cáo Lê Đức T2 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phục vụ Tết nguyên đán Mậu Tý năm 2008.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số tiền 11.551.000 đồng, cụ thể (số tiền 260.000 đồng thu trên chiếu bạc, số tiền 4.619.000 đồng của bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, số tiền 1.072.000 đồng của bị cáo Lê Đức T2 và số tiền 5.600.000 đồng của bị cáo Ung Thị Phương T); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo Lê Đức T2; 01 tô sứ màu trắng có đường kính 18cm, cao 6,7cm và 03 cục xí ngầu, mỗi cục có kích thức (1,5x1,5x1,5)cm; 355 lá bài tây đã sử dụng; 04 bộ bài tây chưa sử dụng, 03 vỏ hộp bài tây bị xé rách.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Ung Thị Phương T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Ung Thị Phương T – 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo Ung Thị Phương T phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền nộp ngân sách nhà nước đối với bị cáo Ung Thị Phương T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Về khấu trừ thu nhập: Khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo Ung Thị Phương T, trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung quỹ nhànước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên có kháng nghị số: 06/QĐ-VKS-P7 kháng nghị theo hướng huỷ một phần bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Ung Thị Phương T để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 358 BLTTHS; Hủy một phần bản án sơ thẩm số 82/2024/HSST, ngày 22/7/2024 của TAND thành phố Tuy Hoà để điều tra lại đối với bị cáo Ung Thị Phương T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, tại quán C do bị cáo Ung Thị Phương T thuê của người khác, địa chỉ H L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, bị cáo T đã sử dụng địa điểm, bàn ghế dùng để bán cà phê, bán nước nhưng khi khách đến uống cà phê và uống nước có hành vi đánh bạc thì bị cáo vẫn đồng ý vì để tăng doanh số bán cà phê, nước giải khát và bán bài tây thu lợi. Trong đó, có bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, bị cáo Lê Đức T2 cùng hai đối tượng tên B và T8 cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức binh xập xám, thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 5.951.000 đồng. Ngoài ra, còn có 8 người khác đang thực hiện hành vi đánh bạc trên hai chiếu bạc, tổng số người đánh bạc là 12 người trên ba chiếu bạc với tổng dùng tiền dùng để đánh bạc là 11.848.000đ thì bị Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên phát hiện, bắt quả tang. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Bùi Thúc Vĩnh Q1, Lê Đức T2, Ung Thị Phương T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Bị cáo Ung Thị Phương T sử dụng địa điểm, bàn ghế thuộc quyền quản lý, sở hữu của mình để bán cà phê và bán nước nhưng khi những người đến uống cà phê và uống nước thực hiện hành vi đánh bạc thì bị cáo cũng đồng ý nhằm tăng doanh thu và bán bài tây thu lợi. Tuy nhiên, địa điểm, bàn ghế bị cáo chuẩn bị mục đích dùng để bán cà phê, bán nước chứ không phải chuẩn bị để cho các đối tượng đánh bạc, bị cáo không có hành vi rủ rê, lôi kéo, xúi dục, cưỡng ép những người khác đến quán bị cáo để đánh bạc, bị cáo không thu tiền xâu từ các con bạc, bị cáo biết rõ những người đến uống cà phê, uống nước có hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không ngăn cản mà vẫn đồng ý nên hành vi của bị cáo đồng phạm với vai trò là người giúp sức đối với hành vi đánh bạc của các bị cáo khác. Hành vi của bị cáo Ung Thị Phương T không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 BLHS. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị huỷ một phần bản án sơ thẩm để điều tra lại về tội danh đối với bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Bị cáo phạm tội “Đánh bạc” với vai trò là người giúp sức thứ yếu, có vai trò không đáng kể nên mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[2.2] Đối với phần bản án sơ thẩm tuyên về thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án là không đúng quy định của pháp luật nên kháng nghị của VKSND tỉnh Phú Yên đối với phần này của bản án sơ thẩm là có căn cứ. Tuy nhiên, ngày 29/7/2024 Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên có thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 22/2024/TB-TA, ngày 29/7/2024 với nội dung: Thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Thông báo này Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà đã gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên nhận vào ngày 08/8/2024, trước khi VKSND tỉnh Phú Yên ban hành kháng nghị. Như vậy, thiếu sót này của bản án sơ thẩm đã được khắc phục kịp thời nên không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[2.3] Bản án sơ thẩm còn tuyên khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo Ung Thị Phương T trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung quỹ nhànước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng nhưng không xác định cụ thể thu nhập hàng tháng của bị cáo là bao nhiêu để tính số tiền phải khấu trừ, gây khó khăn trong việc thi hành án. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên là có căn cứ nên chấp nhận. Tại phiên toà, bị cáo T thừa nhận thu nhập bình quân hàng tháng của bị cáo từ 6 triệu đến 9 triệu đồng. Do đó khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo với số tiền 450.000đ/tháng (9.000.000đ/tháng x 5%).

[4] Bị cáo Ung Thị Phương T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên – Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Ung Thị Phương T.

Tuyên bố: bị cáo Ung Thị Phương T phạm tội “Đánh bạc”;

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Ung Thị Phương T – 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo Ung Thị Phương T phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Ung Thị Phương T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Về khấu trừ thu nhập: Khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo Ung Thị Phương T trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung quỹ nhànước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng, số tiền khấu trừ mỗi tháng là 450.000₫.

2. Về án phí: Bị cáo Ung Thị Phương T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao ĐN (1);
  • - TAND TP. Tuy Hoà (2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND TP. Tuy Hoà (1);
  • - Công an TP. Tuy Hoà (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Người tham gia tố tụng (1);
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 73/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ung Thị Phương T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger