Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 23-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Quản
  2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2024/QĐXXST ngày 08/4/2024, đối với bị cáo:

Lê Sỹ L, sinh năm 1999; Nơi sinh: Tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, Khu phố E; Ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Sỹ H, sinh năm 1971, con bà Lê Thị H1, sinh năm 1981; Vợ con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023 (Có mặt tại phiên tòa).

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: nhà số A, Khu phố F C, B, phường B, thành phố T, Tỉnh Bình Dương (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Ngọc Duy T, sinh năm 1971 (chủ Doanh nghiệp Tư nhân C), Địa chỉ: A T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên vào ngày 21/11/2023, Lê Sỹ L (sinh năm 1999, HKTT: Tổ 29, Khu E, Ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai) mang xe mô tô hiệu Honda AirBlade 160 (chưa có biển số, do L mua ngày 18/11/2023 tại cửa hàng xe máy Bình Dương, địa chỉ số I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A) đến cầm cố tại tiệm C1, địa chỉ số H đường L, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 25.000.000 đồng.

Ngày 22/11/2023, L lên mạng xã hội Facebook tìm người để bán chiếc xe đang cầm nêu trên. Khoảng 22 giờ 30 phút, cùng ngày, L sử dụng tài khoản Messenger tên “Tâmm Lépp” liên hệ với Phạm Văn Đ (sinh năm 1987, HKTT: 2/32 B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương) sử dụng tài khoản Messenger tên “Hay xe” để bán xe, nhưng không thống nhất được giá cả. Vì vậy, L đã thỏa thuận với Đ về việc hai bên sẽ cùng nhau đến tiệm cầm đồ Hưng P để Đ bỏ số tiền 26.000.000 đồng của Đ chuộc xe mô tô trên cho L, sau khi chuộc xe xong, hai bên cùng nhau mang xe (đi chung xe) đến cửa hàng X để L bán xe này, hoàn trả cho Đ số tiền 26.000.000 đồng và tiền công là 1.000.000 đồng.

Khoảng 08 giờ ngày 23/11/2023, L gọi điện cho Đ hẹn đến cửa hàng C2 để chuộc xe như thỏa thuận. Tại đây, Đ chuyển khoản trực tiếp cho anh Nguyễn Văn T1 là chủ tiệm cầm đồ Hưng Phát số tiền 26.000.000 đồng. Sau khi chuộc xe xong, Đ đồng ý để L điều khiển xe này chở Đ đến cửa hàng X, địa chỉ số I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A để bán xe. Khi vào trong cửa hàng, L gặp nhân viên là anh Bùi Thế V, sinh năm 1999 để bán xe, lúc này L nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 26.000.000 đồng của Đ, nên giả vờ nhờ Đ đi mua nước uống. Lúc Đ đang mua nước uống tại 01 tiệm X, cách L khoảng 30m-40m thì L thấy Đ không còn nhìn thấy L nên L điều khiển xe mô tô trên tẩu thoát. Sau đó, L đi đến tiệm C3, địa chỉ A đường T, Phường G, quận P tiếp tục cầm cố cho anh Võ Ngọc Duy T, sinh năm 1971 lấy số tiền 25.000.000 đồng, rồi cắt liên lạc với Đ, số tiền cầm xe L đã tiêu xài hết.

Sau đó, Đ có kể lại sự việc bị L chiếm đoạt số tiền 26.000.000 đồng cho bạn là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993 và Phạm Văn T2, sinh năm 1987. Ngày 24/11/2023, khi L tiếp tục sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Tôm” với thủ đoạn tìm kiếm người để bán xe đang cầm cố tại quận P thì Q nhắn tin hỏi mua xe với mục đích dẫn dụ L ra, sau khi thoả thuận Q đồng ý mua xe với giá tiền là 40.000.000 đồng, L đồng ý bán và hẹn Q đến gần tiệm cầm đồ. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/11/2023, L đến địa điểm đã hẹn thì gặp Đ và Phạm Văn T2, sinh năm 1987 giữ báo Công an phường T, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan CSĐT Công an Q1 thụ lý.

Tại Cơ quan CSĐT Công an Q1, Lê Sỹ L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (bút lục 52-53, 60, 73-74, 77-79, 95-98).

* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

  • - Xe môtô hiệu Honda AirBlade 160 (chưa có biển số), số khung RLHKF5301P2000207, số máy KF53E – 0050791. Theo giấy bán xe số 1177 ngày 18/11/2023 của cửa hàng X và Hóa đơn giá trị gia tăng số 00003273 ngày 20/11/2023 của Công ty TNHH X1 thể hiện Lê Sỹ L đã mua chiếc xe trên.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu trắng, Imei 1: 868280059548346, Imei 2: 868280059548353 (tạm giữ của Lê Sỹ L).
  • - 02 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Sỹ L và người liên quan tại tiệm C1 (Phường C, quận B) và tại cửa hàng X, địa chỉ I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A vào ngày 23/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án).

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Phạm Văn Đ đã được Lê Sỹ L trả lại số tiền là 26.000.000 đồng. Anh Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại cho bị cáo L.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Ngọc Duy T yêu cầu Lê Sỹ L hoàn trả số tiền 27.500.000 đồng (tiền cầm cố xe và điện thoại).

Tại Bản cáo trạng số: 87/CT-VKS ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Sỹ L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Sỹ L từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Phạm Văn Đ đã được Lê Sỹ L trả lại số tiền là 26.000.000 đồng. Anh Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại cho bị cáo L.

Tại phiên tòa ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo L và anh T, bị cáo L đồng ý bồi thường cho anh T (chủ Doanh nghiệp Tư nhân C Võ Ngọc Duy T) số tiền 27.500.000 (hai mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng là tiền bị cáo L nhận của anh T khi cầm cố chiếc xe mô tô và điện thoại nêu trên.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm lo cho mẹ bị cáo hiện giờ đang bị bệnh nặng nằm ở bệnh viện C4 hơn hai tháng nay và em của bị cáo bị bệnh ung thư máu.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị hại đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Sỹ L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định:

Ngày 23/11/2023, Lê Sỹ L sau khi được anh Phạm Văn Đ bỏ ra số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng để chuộc xe mô tô hiệu Honda AirBlade 160 (chưa có biển số), số khung RLHKF5301P2000207, số máy KF53E - 0050791 cho L như đã thỏa thuận thì tại cửa hàng X, địa chỉ số I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, L nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 26.000.000 đồng của anh Đ nên đã dùng thủ đoạn gian dối rồi bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền 26.000.000 đồng này của anh Đ. Do đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Sỹ L đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, cần xử lý nghiêm theo pháp luật, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 26.000.000 đồng và bị hại làm đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Lưu hồ sơ vụ án 02 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Sỹ L và người liên quan tại tiệm C1 (Phường C, quận B) và tại cửa hàng X, địa chỉ I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A vào ngày 23/11/2023.
  • - Cần kê biên để đảm bảo thi hành án đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu trắng, Imei 1: 868280059548346, Imei 2: 868280059548353 và 01 xe môtô hiệu Honda AirBlade 160 (chưa có biển số), số khung RLHKF5301P2000207, số máy KF53E – 0050791, số tiền còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo Lê Sỹ L.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Phạm Văn Đ đã được Lê Sỹ L trả lại số tiền là 26.000.000 đồng. Anh Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại cho bị cáo L.

Tại phiên tòa ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo L và anh T (chủ Doanh nghiệp Tư nhân cầm đồ Võ Ngọc Duy T), bị cáo L đồng ý bồi thường số tiền 27.500.000 (hai mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng cho anh T.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo L phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Sỹ L 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 11 năm 2023.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Lưu hồ sơ vụ án: 02 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Sỹ L và người liên quan tại tiệm C1 (Phường C, quận B) và tại cửa hàng X, địa chỉ I đường N, Khu phố H, phường T, Quận A vào ngày 23/11/2023.

Kê biên để đảm bảo thi hành án: đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu trắng, Imei 1: 868280059548346, Imei 2: 868280059548353 và 01 xe môtô hiệu Honda AirBlade 160 (chưa có biển số), số khung RLHKF5301P2000207, số máy KF53E – 0050791, số tiền còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo Lê Sỹ L.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 71/QĐ-VKS, ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo L và anh Võ Ngọc Duy T (chủ Doanh nghiệp Tư nhân cầm đồ Võ Ngọc Duy T) bị cáo L bồi thường số tiền 27.500.000 (hai mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng cho anh T. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Lê Sỹ L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo L chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 1.375.000 (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lê Sỹ L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CА ТР. НСМ; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy Trang

Hội thẩm nhân dân

Lâm Thị Nga Nguyễn Văn T3

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh T4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger