Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 22-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trường Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phùng Văn Lợi;

- Ông Trần Ánh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường Sơn - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:74/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Bùi Nguyễn Trung D; sinh năm 1992; tại C, Hòa Bình; nơi thường trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M; vợ con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định số 13/QĐ-TA ngày 21/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Nguyễn Trung D với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 28/12/2021 (đang trong thời gian theo dõi sau cai nghiện 2 năm); Nhân thân: Bản án số 70/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt Bùi Nguyễn Trung D 12 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2017 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2018, nộp án phí ngày 08/11/2017).

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023; bị bắt, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an huyện L - Có mặt tại phiên tòa.

2

2. Bị cáo: Bùi Văn K; sinh năm 1990; tại C, Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm T, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K1 và bà Hoàng Thị V; có vợ Bùi Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/7/2022, Công an phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Bùi Văn K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).

Bị bắt, tạm từ giữ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023, bị bắt tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an huyện L - Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1; sinh năm 1996; trú tại: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16 tháng 12 năm 2023, Bùi Nguyễn Trung D đi từ nhà ra đến đường T, thuộc xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình thì gặp Bùi Văn K, đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen, BKS: 28D1-87.11. Do quen biết nhau từ trước vì là người cùng xã và từng sử dụng ma túy cùng nhau nên D rủ K đi mua ma túy để cùng sử dụng. D điều khiển xe mô tô K đang sử dụng, chở K ngồi sau đi ra thành phố H, tỉnh Hòa Bình để mua ma túy. Khi đến C3, thuộc phường T, thành phố H, D bảo K xuống xe đợi và đưa tiền cho K để đi mua xilanh, nước cất, còn D đi xe mô tô ra khu vực Thủy sản, thuộc phường P, thành phố H mua 02 (hai) gói ma túy loại Heroin và 02 (hai) viên H phiến với giá 800.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Mua ma túy xong Du quay lại cây xăng gần tỉnh đội để đón K (Trong lúc chờ D, K đi mua 02 xilanh, 02 ống Dimedrol để chuẩn bị sử dụng ma túy). Sau đó D chở K đến khu vực phía sau trường Cao Đẳng N. Du lấy ra một phần ma túy trong gói vừa mua pha với 01 ống Dimedrol vào 01 xilanh. Pha xong D chia một phần ma túy vừa pha được vào một xi lanh khác, đưa cho K một xilanh. Cả hai cùng sử dụng bằng hình thức tiêm chích. D sử dụng hết ma túy mình pha vào xi lanh, K sử dụng không hết số ma túy pha trong xi lanh. Sử dụng xong ma túy, D đưa K số ma túy còn lại, K cất vào túi quần đằng trước, bên trái K đang mặc, còn xi lanh chứa ma túy K sử dụng chưa hết, K cất vào túi bên phải K đang mặc. Lúc này D rủ K xuống khu vực L, tỉnh Hòa Bình chơi, D lái xe mô tô, K ngồi sau. Khi cả hai đi đến khu vực dốc Kẽm, thuộc xóm K, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình đã vào quán uống nước, thì bị Công an huyện L kiểm tra, phát hiện và thu giữ: 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng và một viên nén màu hồng; 01 gói nilon bên trong có chứa một gói giấy bạc cùng chất màu trắng; 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc bên trong có chứa dung dịch; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu Dimedrol loại 1ml chưa qua sử dụng; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter BKS 28D1 – 08711; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia

3

1280 màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen viền màu đỏ, đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 9350/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của V1 Bộ C4 kết luận.

- Phong bì ghi “thu giữ tại túi quần bên trái của Bùi Văn K”

+ Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc là ma túy, loại Heroin; khối lượng mẫu 0,211 gam.

+ 01 viên nén màu hồng đựng trong 01 gói giấy bạc là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu 0,097 gam.

+ Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói nilon là ma túy, loại Heroin; khối lượng mẫu 0,160 gam

+ Mảnh viên nén màu hồng đựng trong 01 gói nilon là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu 0,026 gam.

- Phong bì ghi “thu giữ tại túi áo khoác bên phải của Bùi Văn K”: Tìm thấy chất ma túy Heroin và M1 trong xi lanh nhựa loại 3ml/cc chứa chất lỏng màu hồng, thể tích chất lỏng là 0,5mL.

+ Khối lượng chất ma túy Heroin có trong 0,5mL chất lỏng màu hồng là 0,0078 gam.

+ Khối lượng chất ma túy Methamphetamine có trong 0,5mL chất lỏng màu hồng là 0,0004 gam.

Cáo trạng số 73/CT-VKSLS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Nguyễn Trung D và Bùi Văn K về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bùi Nguyễn Trung D và Bùi Văn K phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm i, Khoản 1 Điều 249; điểm r, s Khoản 1, Điều 51; Điều 17 Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Bùi Nguyễn Trung D từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù, về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Bùi Văn K từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 3 năm tù, về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) năm đến 2 (hai) năm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 9350/KL-KTHS; kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công An huyện L – Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Đinh Việt A, Hà Hoàng L và các hình dấu đỏ của V1 Bộ C4; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 01 ống

4

thủy tinh nhãn hiệu DIMEDROL, loại 1ml; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng. Trả lại Bùi Nguyễn Trung D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, máy đã qua sử dụng; Trả lại Bùi Văn K 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen viền màu đỏ, đã qua sử dụng. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định, tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về Hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án do đó có đủ cơ sở kết luận: Bùi Nguyễn Trung D và Bùi Văn K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với con người và bị pháp luật nghiêm cấm, song vì ham muốn ích kỷ của bản thân: Bùi Nguyễn Trung D khởi xướng, đưa tiền cho K mua dụng cụ sử dụng ma túy, pha chế và cung cấp ma túy cho K sử dụng. Đưa cho Bùi Văn K 0,5031 gam Heroin và Methamphetamine (0,3788 gram heroin và 0,1234 gram Methamphetamine) của D còn lại sau sử dụng để K cất giấu, tàng trữ cho việc sử dụng lần sau. Bùi Văn K là người thực hiện theo sự chỉ đạo, phân công của Bùi Nguyễn Trung D trong việc giao mô tô cho D điều khiển để đi mua ma túy; mua xilanh, D để dùng vào việc pha chế sử dụng ma túy; cất giấu, tàng trữ 0,5031 gam Heroin và Methamphetamine của Bùi Nguyễn Trung D với mục đích lần sau sử dụng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, phạm vào phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Bùi Nguyễn Trung D giữ vai trò chính thông qua việc rủ, mua và cung cấp ma túy cho K sử dụng, đưa tiền cho K đi mua cụ sử dụng ma ma túy; đưa ma túy cho bị

5

cáo Bùi Văn K tàng trữ trái phép, do vậy chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo Bùi Văn K giữ vai trò đồng phạm với vai trò giúp sức thông qua việc mua dụng cụ để sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy theo chỉ đạo của D.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, khi bị bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo đã chủ động khai báo tự thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trước đó, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[4]. Về hình phạt

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo thấy cần lên mức hình phạt nghiêm khắc cho từng tội danh và tổng hợp hình phạt chung cho từng bị cáo, đồng thời cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét hoàn cảnh, điều kiện của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[5]. Về tang vật của vụ án:

Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ:

- 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng và một viên nén màu hồng; 01 gói nilon bên trong có chứa một gói giấy bạc cùng chất màu trắng; 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc bên trong có chứa dung dịch; sau khi giám định các vật chứng còn lại được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 9350/KL-KTHS; kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công An huyện L – Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Đinh Việt A, Hà Hoàng L và các hình dấu đỏ của V1 Bộ C4. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu DIMEDROL, loại 1ml; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng, đây là vật sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, máy đã qua sử dụng của Bùi Nguyễn Trung D ; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen viền màu đỏ của Bùi Văn K, đây là điện thoại của bị cáo không liên quan đến vụ án do vậy trả lại cho các bị cáo.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 28D1-087.11, nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter Man tên đăng ký mang tên Đỗ Minh C1, qua điều tra xác định, anh Nguyễn Minh

6

C2 đã chuyển nhượng xe cho anh Nguyễn Thanh T2, anh Nguyễn Thanh T2 chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn T1 cho Bùi Văn K mượn để đi chơi. Anh Bùi Văn T3 không biết việc K sử dụng trong quá trình phạm tội, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 là có căn cứ, đúng pháp luật, Anh Thuận không có yêu cầu gì thêm do vậy Tòa không đề cập giải quyết.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

[8]. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m70 là người bán ma túy cho Bùi Nguyễn Trung D, Cơ quan điều tra điều tra đã tiến hành xác minh, xong chưa xác định được và đang tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ tiến hành xử lý theo quy định, do vậy Tòa không để cập giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bùi Nguyễn Trung D, Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm i, Khoản 1 Điều 249; điểm r, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17 Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Bùi Nguyễn Trung D 04 (bốn) năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc Bùi Nguyễn Trung D phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 28/12/2023, được trừ đi số ngày đã bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023.

Xử phạt: Bùi Văn K 03 (ba) năm tù, về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc Bùi Văn K phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 28/12/2023, được trừ đi số ngày đã bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023.

2. Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 9350/KL-KTHS; kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công An huyện L – Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”, mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Đinh Việt A, Hà Hoàng L và các hình dấu đỏ của V1 Bộ C4.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu DIMEDROL, loại 1ml; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng.

7

- Trả lại Bùi Nguyễn Trung D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, máy đã qua sử dụng;

- Trả lại Bùi Văn K 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen viền màu đỏ, đã qua sử dụng.

Các tang vật trên được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 04 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Bùi Nguyễn Trung D và bị cáo Nguyễn Văn K2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lương Sơn;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Lương Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Lương Sơn;
  • - THA hình sự;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trường Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger