Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.

Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Bính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thắng, bà Trần Thị Dung, bà Lê Thị Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phá A L; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993; nơi sinh: huyện T, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con Phá A D (sinh năm 1973) và bà Cháng Thị L1 (sinh năm 1976); có vợ là Giàng Thị S (sinh năm 1993, đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2013); tiền án: 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HS-ST ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã áp dụng khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phá A L 06 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt hai tội là 21 tháng tù. Ngày 30/6/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này (vào ngày 15/3/2024) bị cáo chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Cháng Thị B; sinh năm 2001; trú tại: bản M, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Lai Châu; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 15/3/2024 bị cáo Phá A L đang ở nhà tại bản Huổi Quang 2, xã M, thì có Hờ A T1 (sinh năm 1996; trú tại bản M Hồ A, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên) gọi điện thoại rủ L đi bán H1 cùng T1 và hứa trả công cho L số tiền là 5.000.000 đồng, L đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô (biển kiểm soát 27AV-00979) đến đón và chở L đến khu vực bản Chiềng Chăn 4, xã C tỉnh Lai Châu. Tại đây, T1 cầm 01 chiếc túi làm bằng vải màu đỏ, có nhiều hoa văn treo ở giá treo hàng giữa xe mang giấu vào bụi cây trong rừng cao su và nói cho L biết bên trong có 03 bánh Heroine để bán. Khoảng 12 giờ cùng ngày, có 02 người nam giới (bị cáo không rõ nhân thân, lý lịch) đến gặp và đi cùng T1 xuống taluy âm nói chuyện. Một lúc sau T1 gọi, bảo L lấy túi Heroine T đã cất giấu cầm xuống khu vực taluy âm để giao (bán) cho 02 người đàn ông mua Heroine. Vào hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi L cầm Heroine xuống cho T, các đối tượng đang thực hiện hành vi mua, bán trái phép 03 bánh Heroine thì bị Tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện, bắt giữ được Phá A L và thu giữ toàn bộ vật chứng là 03 bánh Heroine, còn các đối tượng còn lại chạy thoát.

Tại Bản kết luận giám định số: 312/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 03 bánh chất bột khô, màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 1044,73 gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 313/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 03 mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 1, M, Mẫu 3) gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là : Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Tại Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKSLC-P1 ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử bị can Phá A L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Phá A L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo hình phạt tử hình; xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 1.030,89 gam Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi vải màu đỏ, có nhiều hoa văn, 01 túi nilon màu xanh đã được sử dụng để đựng, cất giấu trái phép Heroine là vật không còn giá trị sử dụng; Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ vỏ màu xanh đã được sử dụng để trao đổi trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đối với 01 căn cước công dân mang tên Phá A L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên căn cước công dân này được trả lại cho bị cáo, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đối với 01 chiếc xe moto nhãn hiệu HONDA WAVE @, biển kiểm soát 27AV-00979 là phương tiện Hờ A T1 chở bị cáo L mang Heroine đi bán, là phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xe moto này thuộc quyền sở hữu của bà Cháng Thị B. Khi T1 sử dụng xe moto của B để đi bán Heroine thì B không biết. Cần áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để trả lại 01 xe moto (kèm theo đăng ký e mang tên Cháng Thị B) cho bà Cháng Thị B.

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không biết chữ nên sự hiểu biết pháp luật của bị cáo còn có nhiều hạn chế; số Heroine bị cáo mang bán đã được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, nên hậu quả xấu cho xã hội chưa xảy ra; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo; về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; về án phí: theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Gia đình bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 12 giờ 15 phút, ngày 15/3/2024, tại đường T, thuộc địa phận bản Chiềng Chăn 4, xã C tỉnh Lai Châu, bị cáo Phá A L đang thực hiện hành vi bán trái phép 03 bánh Heroine có tổng khối lượng là 1.044,73 gam cho 02 đối tượng nam giới thì bị Tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Vì không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, ham khoản lợi không chính đáng mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Khối lượng Heroine bị cáo mua bán là đặc biệt lớn (1.044,73 gam). Xét thấy không còn khả năng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo được nữa, mà cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhất là tước bỏ quyền được sống của bị cáo để phòng ngừa chung trong xã hội.

Vì vậy, bản cáo trạng và quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng hình phạt tù chung thân vì bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma túy với khối lượng đặc biệt lớn (1.044,73 gam Heroine).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HS-ST ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã áp dụng khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phá A L 06 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt hai tội là 21 tháng tù. Ngày 30/6/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này (vào ngày 15/3/2024) bị cáo chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án, chưa được xóa án tích, nên thuộc trường hợp “tái phạm”. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo không đi học, không biết chữ, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ 1.044,73 gam Heroine (đã trích 13,84 gam làm mẫu vật gửi giám định còn lại 1.030,89 gam); 01 túi vải màu đỏ, có nhiều hoa văn, 01 túi nilon màu xanh đã được sử dụng để đựng, cất giấu trái phép Heroine. Những vật trên là công cụ, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng. Nên bị tịch thu và tiêu hủy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ vỏ màu xanh đã được sử dụng để trao đổi trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy, là phương tiện phạm tội. Nên bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đối với 01 căn cước công dân mang tên Phá A L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên căn cước công dân này được trả lại cho bị cáo, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đối với 01 chiếc xe moto nhãn hiệu HONDA WAVE @, biển kiểm soát 27AV-00979 là phương tiện Hờ A T1 chở bị cáo L mang Heroine đi bán, là phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xe moto này thuộc quyền sở hữu của bà Cháng Thị B. Khi T1 sử dụng xe moto của B để đi bán Heroine thì B không biết. Cần áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để trả lại 01 xe moto (kèm theo đăng ký e mang tên Cháng Thị B) cho bà Cháng Thị B.

[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[9] Về nguồn gốc ma túy, trách nhiệm của người liên quan:

Theo lời khai của bị cáo Phá A L thì Hờ A T1 là chủ của 03 bánh Heroine và là người rủ bị cáo đi bán Heroine. Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập nhưng Hờ A T1 không có mặt tại địa phương, nên đã ra Quyết định truy tìm người số 263 ngày 01/4/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả. Xác minh xe moto biển kiểm soát 27AV-00979 theo L khai là xe của T1 sử dụng thì xác định chiếc xe trên do bà C A B1 là người sống chung như vợ chồng với T1 đứng tên đăng ký, B đã cho T1 mượn chiếc xe trên để đi chơi vào tối ngày 14/3/2024. Xác minh số điện thoại 0989.337.xxx theo Lử khai nhận là của H2 A T1 sử dụng để liên lạc với L để rủ L đi bán Heroine, tuy nhiên số điện thoại trên do anh Lý A M (sinh năm 1987, trú tại bản Long Dạo, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên) đứng tên đăng ký. Nhưng anh M hiện tại không có mặt tại địa phương. Với tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án không đủ cơ sở để xử lý đối với Hờ A, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, tuy tìm đối tượng với Hờ A T1, khi đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Cháng Thị B là chủ sở hữu xe moto biển kiểm soát 27AV-00979. Kết quả điều tra xác định bà B không biết người khác sử dụng xe của mình làm phương tiện phạm tội, do đó không đề cập xử lý đối với bà B là có căn cứ.

Đối với 02 người đàn ông mua Heroine của bị cáo, do không xác định được nhân thân, lý lịch, nên không có cơ sở để xác minh, xử lý trong vụ án này.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251, Điều 40, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 333 và điểm d khoản 1 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố: bị cáo Phá A L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phá A L tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
  3. Hình Phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Xử lý vật chứng:
    • Tịch thu và tiêu hủy: 1.030,89 gam Heroine; 01 túi vải màu đỏ, có nhiều hoa văn; 01 túi nilon màu xanh.
    • Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ vỏ màu xanh để bán đấu giá, sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Trả lại cho bị cáo Phá A L 01 căn cước công dân mang tên Phá A L.
    • Trả lại cho bà Cháng Thị B: 01 chiếc xe moto nhãn hiệu HONDA WAVE @, biển kiểm soát 27AV-00979; 01 đăng ký xe moto mang tên Cháng Thị B số: 27000770.
    • Tình trạng vật chứng như mô tả chi tiết trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lai Châu được lập vào hồi 09 giờ 15 phút, ngày 11 tháng 7 năm 2024).
  5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo Phá A L được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Phá A L được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cục THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người CQL, VNVLQ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Hằng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 12 giờ 15 phút, ngày 15/3/2024, tại đường tỉnh lộ 128, thuộc địa phận bản Chiềng Chăn 4, xã Chăn Nưa tỉnh Lai Châu, bị cáo Phá A Lử đang thực hiện hành vi bán trái phép 03 bánh Heroine có tổng khối lượng là 1.044,73 gam cho 02 đối tượng nam giới thì bị tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger