Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 09-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Đặng Văn Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Ông Phan Quang Đại Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường ủy ban nhân dân phường K, quận C, TP Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ mở phiên toà lưu động công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLHS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Bị cáo: Văn Hữu T (Tên gọi khác: Văn Hữu H), sinh ngày 07/12/1978 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: K đường Q, tổ B, phường H, quận H, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Hữu H1 và bà Dương Thị X (cả hai đều đã chết), có vợ là Trần Thị Hoài Â, có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, đặc xá ra trại ngày 31/8/2013.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xử phạt Văn Hữu Tưởng mức án 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù của Bản án số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 tại Trại giam A – Bộ C. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Hoàng Thái D, sinh năm 1965; Địa chỉ: B đường L, phường H, quận C, TP Đà Năng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018 thông qua quan hệ xã hội Văn Hữu Tưởng quen biết với ông Hoàng Thái D (sinh năm 1965, trú tại: tổ F, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng), khi làm việc với ông D, T tự giới thiệu tên là H. Do biết ông Hoàng Thái D có nhu cầu muốn mua đất tại thành phố Hồ Chí Minh nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông D để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Để chiếm đoạt được tài sản của ông D, T dẫn ông D đến gặp ông Trần B (chưa rõ lai lịch) và giới thiệu người này có nhiều đất ở huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, nếu ông D có nhu cầu thì góp tiền để ông D và T mua mỗi người mua 4 lô đất. T nói với ông D phải đặt cọc trước số tiền là 250.000.000 đồng để giữ chỗ thì ông Dương t thật nên đồng ý. Do tại thời điểm này ông D chỉ có 200.000.000 đồng nên T nói ông D cứ đưa trước số tiền này, số tiền 50.000.000 đồng còn lại Tưởng sẽ cho ông Dương m để đi đặt cọc cho đủ.

Ngày 06/02/2018, ông D đến nhà T ở tại G T, thuộc phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng giao số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) cho T, số tiền này Tưởng tiêu xài hết vào việc cá nhân. Chiều cùng ngày, ông D hỏi T về giấy đặt cọc thì T nói dối rằng chiều ngày 07/02/2018 mới có giấy cọc.

Ngày 07/02/2018, T đến nhà ông D ở số B L, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, nói ông D đưa thêm số tiền đặt cọc còn lại là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mà T đã ứng cho ông D mượn trước đó và nói dối là để trả cho người khác. Ông D tin tưởng nên tiếp tục đưa cho T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), số tiền này Tưởng tiêu xài hết vào việc cá nhân.

Ngày 15/02/2018, khi được ông Trần B thông báo chưa nhận được tiền đặt cọc mua đất nên ông D hỏi T về việc đã đặt cọc hay chưa thì T nói dối rằng đã đưa tiền đặt cọc cho người tên H1. Để tạo lòng tin cho ông D, T mua 01 sim điện thoại số 0905.882.xxx rồi nói ông D đây là số điện thoại của người tên H1. Khi ông D gọi điện thoại vào số này thì T nghe máy, giả giọng khác rồi nói mình là H1, đã nhận cọc và đưa cho ông B. Tuy nhiên, khi ông D hỏi ông B để xác nhận thì ông B trả lời không nhận bất cứ tiền gì từ người tên H1. Sau khi chiếm đoạt tiền của ông D, T đã tiêu xài hết. Sau khi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo bỏ đi khỏi nơi cư trú. Đến tháng 12/2023 thông qua công tác xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Tổng số tiền bị cáo Văn Hữu T chiếm đoạt của ông Hoàng Thái D là 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Người bị hại Hoàng Thái D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, quá trình điều tra, truy tố bị cáo chưa bồi thường cho bị hại.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKSCL ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Văn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Văn Hữu T đã khai nhận hành vi gian dối chiếm đoạt của ông Hoàng Thái D tổng số tiền 250.000.000 đồng như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Hoàng Thái D đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho ông tổng số tiền 250.000.000 đồng; Về hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Văn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 58/CT-VKSCL ngày 12/6/2024. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm b, g, h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Văn H2 Tưởng mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tổng hợp hình phạt chung với bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại Hoàng Thái D số tiền 250.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã tiến hành đều hợp pháp.

[2] Về nội dung hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Văn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Do cần tiền sử dụng mục đích cá nhân nên Văn H2 tưởng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông Hoàng Thái D. Để chiếm đoạt được tài sản của ông Hoàng Thái D, Văn Hữu T đã có hành vi gian dối, nói dối với ông Dương 1 cùng góp vốn đặt cọc mua đất tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng Thái D tin là thật nên vào ngày 06/02/2018 tại G T, quận C và ngày 07/02/2018 tại nhà ông D ở B L, quận C, ông Hoàng Thái D đã đưa cho Văn Hữu T tổng số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) để đặt cọc mua đất. Sau khi chiếm đoạt được tiền của ông D, T sử dụng trả nợ và tiêu xài cho cá nhân, đến nay chưa khắc phục được cho bị hại.

Như vậy, với hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của người bị hại với tổng số tiền 250.000.000 đồng của bị cáo Văn Hữu T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 58/CT-VKSCL ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã 02 lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của người bị hại tổng số tiền 250.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn như mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục nhiều lần chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Ngoài 02 lần phạm tội ở vụ án này, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, bị cáo còn nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 09 bị hại với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng, bị cáo lấy tài sản phạm tội làm nguồn sống chính cho bản thân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với các tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “Phạm tội từ 2 lần trở lên”, “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b, g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về quyết định hình phạt: Mặc dù trong vụ án này bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng như đã nhận định ở trên, tuy nhiên vụ án này xảy ra vào năm 2018, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo mức án 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo ở khởi điểm của khung hình phạt và tổng hợp hình phạt với bản án số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng là phù hợp, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra tại phiên tòa người bị hại Hoàng Thái D đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Văn Hữu T phải bồi thường cho bị hại số tiền 250.000.000 đồng. Xét yêu cầu đòi bồi thường của người bị hại là có cơ sở, bản thân bị cáo Văn Hữu T cũng đồng ý bồi thường cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo Văn Hữu T phải bồi thường cho bị hại số tiền 250.000.000 đồng.

[7] Về án phí: Bị cáo Văn Hữu T phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với người có tên Trần B do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ sau là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Văn Hữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

    Xử phạt bị cáo Văn H2 Tưởng 07 (bảy) năm tù.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù của bản án này với hình phạt 12 (mười hai) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo Văn Hữu T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là: 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 27/7/2021.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015.

    Buộc bị cáo Văn Hữu T phải bồi thường cho bị hại ông Hoàng Thái D số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Văn Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 12.500.000 đồng (Mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CQDĐ -Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS – Công an Q, Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Trại giam An Điềm;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Văn Hữu T lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger