Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.

Ông Nguyễn Văn Kỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Đoàn Xuân Chanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Hữu T, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng H và bà Vũ Thị T1; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Nguyễn Thùy L, sinh năm 1995 và có 02 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 05/02/2024, được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

2. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc N và bà Nguyễn Thị H2; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; có chồng là Nguyễn Mạnh H3, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số 06/2014/HSST, ngày 20/01/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/01/2019 và nghĩa vụ án phí ngày 03/7/2014; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024, được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

3. Đỗ Văn D, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn P và bà Nguyễn Thị N1; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Nguyễn Thị H4, sinh năm 1986 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số 67/HSST, ngày 16/01/2004 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội “ Cướp tài sản”. Đã chấp hành và được đặc xá ngày 29/8/2006, chấp hành xong nghĩa vụ án phí vào ngày 09/8/2006; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 05/02/2024, được thay thế biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

4. Lê Ngọc L1, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: đường L, khu F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H5 và bà Nguyễn Thị H6; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Hoàng Thị Thanh H7, sinh năm 1995 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 05/02/2024, được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

5. Đỗ Thị N2, sinh năm 1965; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: khu C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: Lớp 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình L2 và bà Nguyễn Thị Thanh B; gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ tư; có chồng là Nguyễn Đức V, sinh năm 1963 và có 01 con sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số 98/2021/HSST, ngày 05/05/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 35 triệu đồng về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong ngày 20/7/2021; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 01/02/2024, được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

6. Phạm Thị N3, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn Đ, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị B1; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; có chồng là Phan Văn L3, sinh năm 1985 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 05/02/2024, được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h15' ngày 29/01/2024 tại khu T, phường V, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường V, Công an thành phố B bắt quả tang Lê Hữu T, sinh năm 1991, HKTT: Khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Đỗ Văn D, sinh năm 1982, ở cùng khu. Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng (gold) của T.

Quá trình kiểm tra điện iphone XS Max của T phát hiện ngoài tin nhắn mua bán số lô, số đề với D còn có các tin nhắn mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, HKTT: Số D T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Đỗ Thị N2, sinh năm 1965, HKTT: Khu C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Lê Ngọc L1, sinh năm 1992, HKTT: số B L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B in thành 21 tờ A4, T ký xác nhận.

Khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Hữu T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không phát hiện, thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Khoảng 19h20' cùng ngày 29/01/2024, Nguyễn Thị H1 và Đỗ Văn D đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên; đồng thời Nguyễn Thị H1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A53 5G màu trắng; Đỗ Văn D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen.

Kiểm tra điện thoại của H1 phát hiện ngoài tin nhắn mua bán số lô, số đề với T thì H1 còn mua bán số lô, số đề với Phạm Thị N3, sinh năm 1987, HKTT: thôn Đ, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B in thành 06 tờ A4, H1 ký xác nhận.

Khoảng 12h ngày 30/01/2024, Phạm Thị N3, Lê Ngọc L1 và Đỗ Thị N2 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên; đồng thời N2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đỏ. N2 khai nhận chiếc điện thoại này N2 sử dụng để liên lạc hàng ngày, không mua bán số lô, số đề. Còn chiếc điện thoại Samsung N2 dùng nhắn tin mua bán số lô, số đề với T thì đã bị rơi mất.

Ngày 08/02/2024, L1 giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám và Nhạn giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu tím đen; L1 khai nhận đây là điện thoại L1 sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với T; N3 khai nhận đây là điện thoại N3 sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với H1; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của L1, N3 nhưng không phát hiện tin nhắn mua bán số lô, số đề do L1, N3 đã xoá.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã làm rõ được như sau:

Khoảng từ đầu tháng 01/2024, Lê Hữu T thoả thuận với Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1, Nguyễn Thị H1, Đỗ Thị N2 để D, L1, H1, N2 làm thư ký đề cho T. Hàng ngày, sau khi bán số lô, số đề cho khách thì chuyển lại các số lô, số đề cho T qua tin nhắn Zalo. Huyên thỏa thuận với N3 về việc khi có nhu cầu chơi số lô đề thì nhắn tin cho H1. Để thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng lập tài khoản Zalo. Cụ thể: Thơ lập tài khoản tên “Thuận Lợi”; D lập tài khoản tên “Phát Loc”; L1 lập tài khoản tên “Na Na N4”; H1 lập tài khoản tên “Cỏ Dại”; N2 lập tài khoản Zalo tên “N2”; N3 lập tài khoản tên “Vezai”. Thơ thoả thuận với D, H1 giá bán số đề là 82%, với N2 và L1 là 83% (tức là nếu khách mua số đề 100.000đ thì D, H1 chuyển cho T 82.000đ, L1 và N2 chuyển cho T 83.000đ); giá 01 điểm lô với D và H1 là 21.700đ với L1 và N2 là 21.800đ; giá tiền lô xiên với L1 là 70% và N2 là 72% (tức là nếu khách mua số lô xiên 100.000đ thì L1 chuyển cho T 70.000đ và N2 chuyển cho Thơ 72.000đ). Cách thức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề như sau: Hàng ngày, sau khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng (bắt đầu lúc 18h15, kết thúc lúc 18h30), các đối tượng sẽ đối chiếu, so sánh các số lô, số đề rồi tính toán thắng thua với nhau bằng tiền mặt vào ngày hôm sau. Nếu trúng (thắng) thì tỷ lệ thắng thua được tính như sau: Trúng số đề hoặc nhất (tức là 02 số cuối của giải đặc biệt và giải nhất) tỷ lệ là 1 ăn 80 (nghĩa là người chơi 1.000đ nếu trúng thành 80.000đ); trúng lô xiên 2 (tức là người chơi chọn cặp 02 số mà cả 02 số này đều có trong 02 số cuối của tất cả các giải) được gấp 10 lần số tiền chơi; lô xiên 3 tương tự như xiên 2, tỷ lệ này là 1 gấp 40 lần; lô xiên 4 tỷ lệ là 1 gấp 100 lần; chơi đề 03 số tỷ lệ là 1 gấp 400 lần; trúng 1 điểm lô được 80.000đ (người chơi 1 điểm lô mất khoảng từ 21.700đ đến 22.000đ). Nếu thua thì mất số tiền đã chơi.

Hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:

1. Hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Thị H1:

Ngày 29/01/2024, Huyên bán số lô, số đề cho Phạm Thị N3 và một số người khác (chưa rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền mua bán số đề là 83.040.000₫ và 1.520 điểm lô (trong đó N3 là 520 điểm lô và 1.540.000đ tiền đề). Huyên thoả thuận với N3 và khách giá tiền mua số đề là 83% (tức là nếu Nhạn, khách mua số đề 100.000đ thì Huyên thu 83.000đ); giá 01 điểm lô là 21.800đ. Tổng số tiền số lô, số đề Huyên bán được trong ngày 29/01/2024 là 83.040.000₫ x 83% + 1.520điểm x 21.800đ = 68.923.200đ + 33.136.000đ = 102.059.200đ. Huyên nhắn 06 tin chuyển các số lô, số đề bán cho khách từ tài khoản Zalo “Cỏ Dại” của H1 đến tài khoản Z “Thuận Lợi” của T. Theo thoả thuận H1 phải chuyển cho T số tiền là 83.040.000₫ x 82% + 1.520 điểm x 21.700đ = 68.092.800đ + 32.984.000đ = 101.076.800đ, nhằm hưởng lợi số tiền 102.059.200₫ - 101.076.800₫ = 982.400đ. Huyên chưa thanh toán cho T.

Tổng số tiền H1 tổ chức đánh bạc là 102.059.200đ.

2. Hành vi tổ chức đánh bạc của Đỗ Văn D:

Ngày 29/01/2024, D bán số lô, số đề cho một số người khác (chưa rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền đề là 14.575.000đ và 1.500 điểm lô; Dũng thu của khách giá tiền đề là 85% (tức là khách mua số đề 100.000đ thì D thu của khách là 85.000đ) và 01 điểm lô là 23.000đ. Tổng số tiền số lô, số đề D bán được trong ngày 29/01/2024 là 14.575.000₫ x 85% + 1.500điểm x 23.000đ = 12.388.750đ + 34.500.000đ = 46.888.750đ. D nhắn 09 tin chuyển các số lô, số đề bán cho khách từ tài khoản Zalo “Phat Loc” của D đến tài khoản Zalo tên “Thuận Lợi” của T với tổng số tiền đề, tiền lô là 14.575.000đ x 82% + 1.500 điểm x 21.700đ = 11.951.500đ + 32.550.000đ = 44.501.500đ, nhằm hưởng lợi số tiền 46.888.750₫ - 44.501.500₫ = 2.387.250₫. D chưa thanh toán tiền cho T.

Tổng số tiền D tổ chức đánh bạc là 46.888.750đ.

3. Hành vi tổ chức đánh bạc của Lê Ngọc L1:

Ngày 29/01/2024, L1 bán số lô, số đề cho một số người khác (chưa rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền đề là 31.085.000đ, 610 điểm lô và lô xiên là 2.020.000đ; L1 thu của khách giá tiền đề là 85% (tức là khách mua số đề 100.000₫ thì L1 thu của khách là 85.000đ), 01 điểm lô là 23.000đ và lô xiên là 75%. Tổng số tiền số lô, số đề L1 bán được trong ngày 29/01/2024 là 31.085.000₫ x 85% + 610điểm x 23.000đ + 2.020.000₫ x 75% = 26.422.250₫ + 14.030.000₫ + 1.515.000 = 41.967.250đ. L1 nhắn 19 tin chuyển các số lô, số đề bán cho khách từ tài khoản Zalo “Na Na Na” của L1 đến tài khoản Zalo tên “Thuận Lợi” của T với tổng số tiền đề, tiền lô là 31.085.000đ x 82% + 610 điểm x 21.800đ + 2.020.000₫ x 70% = 25.489.700đ + 13.298.000đ + 1.414.000₫ = 40.201.700đ, nhằm hưởng lợi số tiền 41.967.250₫ - 40.201.700đ = 1.765.550đ. L1 chưa thanh toán tiền cho T.

Tổng số tiền L1 tổ chức đánh bạc là 41.967.250đ.

4. Hành vi đánh bạc của Đỗ Thị N2:

Ngày 29/01/2024, N2 bán số lô, số đề cho một số người khác (chưa rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với tổng số đề là 3.390.000đ, 129 điểm lô và lô xiên 130.000đ. Nhung thoả thuận với khách giá tiền đề là 85%, giá 01 điểm lô là 22.000đ, giá lô xiên là 100%. Số tiền N2 mua bán số lô, số đề là 3.390.000₫ x 85% + 129 điểm x 22.000₫ + 130.000₫ = 2.881.500₫ + 2.838.000₫ + 130.000₫ = 5.849.500đ. N2 sử dụng tài khoản Zalo “Nhung” nhắn 04 tin nhắn mua số lô, số đề đến tài khoản Zalo “Thuận Lợi” của T. Theo thoả thuận N2 phải thanh toán cho T 3.390.000₫ x 83% + 129 điểm x 21.800₫ + 130.000₫ x 72% = 2.813.700đ + 2.812.200đ + 93.600đ = 5.719.500đ, nhằm hưởng lợi 5.849.500đ - 5.719.500đ = 130.000đ. N2 chưa thanh toán tiền cho T. Hành vi của N2 là giúp sức cho T tổ chức đánh bạc, tuy nhiên căn cứ vào số tiền ghi số lô đề cho người chơi, N2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

5. Hành vi đánh bạc của Phạm Thị N3:

Ngày 29/01/2024, N3 sử dụng tài khoản Zalo “Vezai” của N3 nhắn 03 tin nhắn mua số lô, số đề với Nguyễn Thị H1 qua tài khoản Zalo “Cỏ Dại” của H1. Tổng số tiền N3 mua số đề là 1.540.000đ và 520 điểm. Theo thoả thuận N3 phải thanh toán cho H1 là 1.540.000₫ x 83% + 520 điểm x 21.800đ = 1.278.200đ + 11.336.000đ = 12.614.200đ. Tổng số tiền N3 đánh bạc là 12.614.200đ. Nhạn chưa thanh toán tiền cho H1.

6. Hành vi tổ chức đánh bạc của Lê Hữu T:

Ngày 29/01/2024, qua mạng xã hội Zalo, Lê Hữu T nhận 06 tin nhắn mua bán số lô, số đề của Nguyễn Thị H1 với tổng số tiền là 101.076.800đ; nhận 09 tin nhắn mua bán số lô, số đề của Đỗ Văn D với tổng số tiền là 44.501.500đ; nhận 19 tin nhắn mua bán số lô, số đề của Lê Ngọc L1 với tổng số tiền 40.201.700đ; nhận 04 tin nhắn mua bán số lô, số đề của Đỗ Thị N2 với số tiền 5.719.500đ. Khi các thư ký chuyển các số lô đề đến thì T giữ lại và không chuyển cho ai khác. Tổng số tiền T tổ chức đánh bạc là 101.076.800đ + 44.501.500đ + 40.201.700đ + 5.719.500₫ = 191.499.500₫.

Về thu giữ vật chứng:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng (gold) thu của T khi bắt quả tang;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G màu trắng của H1;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen thu của D;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ thu của N2;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím đen của N3;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám thu của L1.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số: 58/CT-VKS-P2 ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố: Các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; các bị cáo Đỗ Thị N2, Phạm Thị N3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, cả sáu bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp một khoản tiền tại Cục thi hành án tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo việc thi hành án. Bị cáo H1 trình bày hoàn cảnh hiện đang một mình nuôi con vì chồng đang thi hành án chung thân; bị cáo T có bố đẻ là bệnh binh; bị cáo N3 có bố đẻ là Thương binh; bị cáo N2 có bệnh án mắc bệnh ung thư. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị N2, Phạm Thị N3 phạm tội “Đánh bạc”.

* Về hình phạt:

1. Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:

  • - Phạt bị cáo Lê Hữu T từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
  • - Phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
  • - Phạt bị cáo Đỗ Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
  • - Phạt bị cáo Lê Ngọc L1 từ 14 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.

2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Đỗ Thị N2 từ 8 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Phạm Thị N3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu xung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng của bị cáo T; 01 điện thoại Oppo màu đen của bị cáo D; 01 điện thoại Samsung galaxy A53 5G màu trắng của bị cáo H1; 01 điện thoại Oppo màu tím của bị cáo N3; 01 điện thoại Iphone màu xám của bị cáo L1.
  • - Trả lại bị cáo N2 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đỏ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Về áp dụng biện pháp tư pháp: Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cụ thể: Bị cáo H1 là 89.445.000 đồng, bị cáo D là 46.888.750 đồng, bị cáo L1 là 41.967.250 đồng; bị cáo N2 là 5.849.500 đồng; bị cáo N3 là 12.614.200 đồng.

Xác nhận các bị cáo đã nộp tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, cụ thể: các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1 mỗi bị cáo nộp 20.200.000đ; bị cáo Đỗ Thị N2 nộp 6.049.500đ; bị cáo Phạm Thị N3 nộp 12.814.200₫.

Các bị cáo đều nhất trí với nội dung luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, xin hứa chấp hành nghiêm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, cả sáu bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tiếp nhận người ra đầu thú và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18h15' ngày 29/01/2024, tại nhà Lê Hữu T ở khu phố T, phường V, thành phố B, Thơ đang tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán trái phép số lô, số đề qua ứng dụng Zalo với các thư ký đề gồm: Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1 và Đỗ Thị N2, với tổng số tiền là 191.499.500đ. Trong đó: Nguyễn Thị H1 mua bán trái phép số lô, số đề với khách số tiền 102.059.200đ (trong đó bán cho Phạm Thị N3 số tiền 12.614.200đ), H1 chuyển cho T số tiền 101.076.800₫, nhằm hưởng lợi 982.400đ; Đỗ Văn D mua bán trái phép số lô, số đề với khách số tiền 46.888.750đ, D chuyển cho T số tiền 44.501.500đ, nhằm hưởng lợi 2.387.250đ; Lê Ngọc L1 mua bán trái phép số lô, số đề với khách số tiền 41.967.250đ, L1 chuyển cho T số tiền 40.201.700đ, nhằm hưởng lợi 1.765.550đ; Đỗ Thị N2 mua bán trái phép số lô, số đề với khách số tiền 5.849.500đ, N2 chuyển cho T số tiền 5.719.500đ, nhằm hưởng lợi 130.000đ. Vì vậy có cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1, Đỗ Thị N2 có hành vi giúp sức trực tiếp bán số lô, số đề, thu tiền và chuyển bảng cáp cho T, tuy nhiên các bị cáo H1, D, L1 đã chuyển với số tiền trên 20.000.000 đồng nên đã cùng bị cáo T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Còn bị cáo N2 là thư ký đề đã chuyển cho T với số tiền dưới 20.000.000 đồng và ghi số lô, số đề cho dưới 10 người nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo N3 có hành vi mua số lô, số đề của H1 với số tiền 12.614.200đ cũng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và luận tội của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong đó Lê Hữu T có vai trò chính nên bị xem xét mức hình phạt nghiêm khắc nhất. Các bị cáo còn lại, Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân và số lượng tiền phạm tội của từng bị cáo để cân nhắc mức hình phạt.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo Lê Hữu T, Lê Ngọc L1Phạm Thị N3 có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; còn các bị cáo Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn DĐỗ Thị N2 từng bị kết tội nhưng đã được xóa án tích. Sau khi được xóa án đến khi phạm tội lần này các bị cáo chấp hành pháp luật tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả sáu bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã nộp tiền sử dụng vào việc phạm tội nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Thị N3 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1, Đỗ Thị N2Phạm Thị N3 sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo N3 có bố đẻ là thương binh, bị cáo T có bố đẻ là bệnh binh nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ điều kiện hoàn cảnh gia đình, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đủ điều kiện được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đồng thời với hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để tăng tính răn đe, giáo dục.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước điện thoại các bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng của T; 01 điện thoại Oppo màu đen của D; 01 điện thoại Samsung galaxy A53 5G màu trắng của Huyên; 01 điện thoại Oppo màu tím của N3; 01 điện thoại Iphone màu xám của L1.
  • - Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đỏ của N2 không dùng vào việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về áp dụng biện pháp tư pháp: Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: Bị cáo H1 là 89.445.000 đồng, bị cáo D là 46.888.750 đồng, bị cáo L1 là 41.967.250 đồng; bị cáo N2 là 5.849.500 đồng; bị cáo N3 là 12.614.200 đồng.

Xác nhận số tiền các bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7] Những vấn đề khác:

  • - Do không có đủ thông tin cá nhân của những người đi đường mua số lô, số đề của các bị cáo nên không có căn cứ để xử lý. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • - Đến nay, chưa có căn cứ để xem xét, xử lý đối với hành vi mua, bán số lô, số đề của các bị cáo thực hiện trước ngày 29/01/2024. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • - Chiếc điện thoại S mà bị cáo N2 dùng nhắn tin mua bán số lô đề với T đã bị mất, không truy tìm được nên không có cơ sở xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị N2, Phạm Thị N3 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:

  • - Phạt bị cáo Lê Hữu T 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 30 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
  • - Phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 25 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
  • - Phạt bị cáo Đỗ Văn D 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
  • - Phạt bị cáo Lê Ngọc L1 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Đỗ Thị N2 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/7/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Phạm Thị N3 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Lê Hữu T và bị cáo Đỗ Văn D cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Ngọc L1 và bị cáo Đỗ Thị N2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phạm Thị N3 cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

5. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng của T; 01 điện thoại Oppo màu đen của D; 01 điện thoại Samsung galaxy A53 5G màu trắng của Huyên; 01 điện thoại Oppo màu tím của N3; 01 điện thoại Iphone màu xám của L1.
  • - Trả lại bị cáo N2 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đỏ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 102/2024 ngày 27/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh)

- Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: Nguyễn Thị H1 số tiền 89.445.000 đồng, Đỗ Văn D số tiền 46.888.750 đồng, Lê Ngọc L1 số tiền 41.967.250 đồng; Đỗ Thị N2 số tiền 5.849.500 đồng; Phạm Thị N3 số tiền 12.614.200 đồng.

Xác nhận các bị cáo đã nộp tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, cụ thể: Bị cáo D nộp 20.200.000₫ theo Biên lai thu tiền số 0001288 ngày 28/6/2024; Bị cáo L1 nộp 20.200.000đ theo Biên lai thu tiền số 0001284 ngày 28/6/2024; Bị cáo N2 nộp 6.049.500đ theo Biên lai thu tiền số 0001289 ngày 01/7/2024; Bị cáo N3 nộp 12.814.200đ theo Biên lai thu tiền số 0001290 ngày 01/7/2024; Bị cáo T nộp 20.200.000đ theo Biên lai thu tiền số 0001294 ngày 02/7/2024; Bị cáo H1 nộp 20.200.000đ theo Biên lai thu tiền số 0001303 ngày 05/7/2024.

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Thị H1, Đỗ Văn D, Lê Ngọc L1, Đỗ Thị N2, Phạm Thị N3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT (PC 02)- PV 27 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh;
  • - UBND phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh;
  • - UBND phường Thị Cầu, TP Bắc Ninh;
  • - UBND xã Chi Lăng, TX Quế Võ;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger