Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-PT

Ngày: 10 - 12 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hùng Long và bà Nguyễn Thị Mai Hương.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hợp - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 tháng 12 và ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 79/2024/TLPT-HS ngày 02/10/2024, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2024/QĐXXPT-HS ngày 08/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QĐ ngày 23/10/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2024/QĐ ngày 08/11/2024, đối với:

  • * Bị cáo kháng cáo: Lê Huy N, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Bản N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; chỗ ở: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lã Văn T và bà Trần Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ 28/11/2023, chuyển tạm giam từ 07/12/2023 đến 25/4/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lê Huy N: Bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Là Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ trụ sở: Số B, ngách A, ngõ A; đường T, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Có mặt.

  • * Bị hại không kháng cáo: Công ty TNHH K; địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Lee Dong H-Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thu Q - Trưởng phòng hành chính nhân sự; Đều vắng mặt.

Ngoài ra còn có các bị cáo sau không kháng cáo: (1) Vũ Văn C, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam; (2) Bùi Văn M1, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Thôn I, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: Tổ dân phố L, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; (3) Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Đều vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo:

  • + Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Ông Lã Văn T, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Anh Tạ Văn T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu đô thị Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Anh Đặng Quang H2, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Chị Mai Thị Hồng H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Chị Vũ Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Đ, thôn T, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

  • + Ông Đinh Văn S1, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Thái H4, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Đều vắng mặt.

  • + Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn C là công nhân Công ty TNHH K (Công ty K); công việc hàng ngày là đóng thùng các thanh kim loại cần gạt nước xe ô tô đã thành phẩm và lái xe nâng các thùng hàng lên xe ô tô để vận chuyển giao cho khách hàng. Từ đầu tháng 9/2023, do cần tiền ăn tiêu cá nhân nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là các Pallet gỗ và các thùng carton đựng các cuộn, sợi dây đồng lỗi của Công ty K bán lấy tiền. Trước khi trộm cắp tài sản khoảng 3 đến 5 ngày, C bóc, xé tem ghi trọng lượng, chủng loại và tên của khách hàng ở bên ngoài thùng carton đựng hàng thành phẩm để dán sang thùng carton đựng các cuộn, sợi dây đồng bị lỗi, mục đích để tránh thủ kho, bảo vệ phát hiện. Sau đó, C chờ các lái xe của các Công ty vận tải đến bốc hàng thì C thỏa thuận, thống nhất với các lái xe trộm cắp tài sản nêu trên vận chuyển ra ngoài để bán lấy tiền chia nhau.

Thời gian từ ngày 13/9/2023 đến ngày 01/11/2023 Vũ Văn C cùng các lái xe đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản tại Công ty K, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 13/9/2023, Nguyễn Tiến Đ là lái xe thời vụ của Công ty V1, trụ sở tại tổ dân phố T, phường C, thị xã D điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 90H-02231 đến Công ty K nhận hàng chuyển đến Khu công nghiệp L, tỉnh Hòa Bình. Khi vào cổng bảo vệ, Đ xuất trình, cung cấp thông tin của mình với bảo vệ để vào Công ty chở hàng. Trong lúc chờ bốc hàng, C đến gặp Đ và nói “Em có một thùng hàng muốn cho ra ngoài, nếu anh cho ra được thì anh em mình cùng kết nối” mục đích muốn rủ Đ cùng trộm cắp thùng hàng của Công ty mang ra ngoài bán lấy tiền chia nhau. Đ hiểu ý nên đã đồng ý cùng C trộm cắp hàng của Công ty K mang ra ngoài bán lấy tiền chia nhau nhưng vẫn sợ khi qua cổng bị bảo vệ phát hiện nên hỏi lại C “Liệu có ok không”, C nói “Chắc không sao đâu anh ạ”. Đ xin số điện thoại của C thì Cung đọc số điện thoại của mình đăng ký zalo số thuê bao 0365.744.138 cho Đ để tiện liên lạc với nhau qua zalo.

Sau đó, C điều khiển xe nâng để nâng các Pallet hàng lên thùng xe ô tô của Đ. Chị Vũ Thị T2 là quản lý kho của Công ty ra kiểm tra, chụp ảnh các pallet hàng (hàng Catting) trên thùng xe ô tô và yêu cầu Đ đóng cửa ô tô lại để chụp ảnh và ký xác nhận số lượng các Pallet hàng trên thùng xe đúng, đủ số lượng hàng in trên hóa đơn xuất hàng của Công ty. Chị T2 đưa cho Đ cầm 02 hóa đơn còn chị cầm 01 hóa đơn rồi vào trong kho. Lúc này, C quan sát không có người nên C điều khiển xe nâng nâng thêm 01 thùng hàng gồm 01 pallet gỗ bên trên có thùng carton đựng hàng rác Ribon (dây đồng đỏ bị lỗi) mang đi cân được 253kg, sau đó chở ra sau thùng xe ô tô của Đ, thấy vậy Đ mở cánh cửa phía sau thùng xe ô tô để Cung nâng thùng hàng lên thùng xe ô tô rồi Đ đóng cửa phía sau thùng xe lại và điều khiển xe ô tô đi. Ra đến cổng bảo vệ, Đ xuống xe mở cửa thùng sau xe ô tô và đưa 01 hóa đơn xuất hàng cho bảo vệ là anh Nguyễn Thái H4 (nhân viên bảo vệ của Công ty) kiểm tra. Do bảo vệ không phát hiện thấy trên thùng xe ô tô của Đ thừa 01 Pallet hàng nên Đ đóng cửa thùng xe ô tô lại rồi điều khiển xe ô tô đi ra ngoài Công ty.

Trên đường đi giao hàng, Đ với C đã liên lạc qua ứng dụng zalo nói chuyện với nhau thì Đ biết được thùng hàng trộm cắp được có tổng trọng lượng là 253kg, trong đó khối lượng dây đồng đỏ là 225kg. Khi điều khiển xe ô tô đi đến địa phận huyện K, Đ bán cho người phụ nữ mua đồng nát không quen biết được số tiền 25.300.000 đồng. Sau đó Đ tiếp tục chở hàng lên Khu công nghiệp L, Hòa Bình để giao hàng. Cùng ngày, Đ liên hệ qua ứng dụng zalo với C để xin số tài khoản ngân hàng của C mục đích để chuyển tiền cho C, C nhắn tin qua zalo tài khoản ngân hàng V2 số [...] mang tên Vũ Văn C gửi cho Đ. Đ sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 0020167899999 mang tên mình chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C, Đ giữ lại 5.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền C đã gửi tin nhắn thể hiện việc nhận được số tiền do Đ gửi với nội dung “Ok em nhận được rồi”. Toàn bộ số tiền trên C và Đ đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/9/2023, Bùi Văn M1 là lái xe thời vụ của Công ty TNHH D, trụ sở tại thôn T, xã T, thị xã D điều khiển ô tô tải BKS 90H-00871 đến Công ty K nhận hàng chuyển đến Khu công nghiệp L, tỉnh Hòa Bình. Khi vào cổng, M1 xuất trình, cung cấp thông tin của mình với bảo vệ để vào Công ty chở hàng. Trong lúc chờ bốc hàng, C gặp M1 nói “Em có một số đồng vụn để trong thùng, em cẩu lên xe anh mang ra ngoài bán, được thì anh em mình còn làm ăn”, mục đích muốn rủ M1 cùng trộm cắp thùng hàng của Công ty mang ra ngoài bán lấy tiền chia nhau, M1 hiểu ý nên đồng ý. M1 xin số điện thoại của C và kết bạn zalo với Cung theo số thuê bao 0365.744.138.

Sau đó, C điều khiển xe nâng rồi nâng các Pallet hàng lên thùng xe ô tô, chị Vũ Thị T2 quản lý kho của Công ty ra kiểm tra chụp ảnh các pallet hàng (hàng Catting) trên thùng xe ô tô và yêu cầu M1 đóng cửa ô tô lại để chụp ảnh và ký xác nhận số lượng các Pallet hàng trên thùng xe đúng, đủ số lượng hàng in trên hóa đơn xuất hàng của Công ty. Chị T2 đưa cho M1 cầm 02 hóa đơn còn chị cầm 01 hóa đơn rồi đi vào bên kho. Quan sát không có ai nên C điều khiển xe nâng nâng thêm 01 pallet gỗ bên trên có thùng carton đựng hàng rác Ribon (dây đồng đỏ bị lỗi), khối lượng dây đồng đỏ lỗi là 131,6 kg để lên thùng xe ô tô của M1. Sau đó, M1 điều khiển xe ô tô ra cổng bảo vệ, M1 xuống xe mở cửa thùng sau xe ô tô và đưa 01 hóa đơn xuất hàng cho bảo vệ là anh Nguyễn Thái H4 kiểm tra. Do anh H4 không phát hiện trên thùng xe ô tô của M1 thừa 01 Pallet hàng nên M1 đóng cửa thùng xe ô tô rồi điều khiển xe đi giao hàng.

Khi điều khiển xe đi đến địa phận huyện M, thành phố Hà Nội thì M1 dừng lại tại điểm thu mua đồng nát ở dọc đường. Tại đây, M1 bán thùng hàng cho người phụ nữ mua đồng nát không rõ tên tuổi, địa chỉ được số tiền là 16.450.000 đồng rồi tiếp tục đi giao hàng. Cùng ngày, M1 đã liên lạc với C qua mạng xã hội zalo để xin số tài khoản ngân hàng của C, C cung cấp tài khoản Ngân hàng V2 số [...] mang tên Vũ Văn C cho M1, M1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V3 số 1029174667 mang tên mình chuyển 10.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của C còn lại 6.450.000 đồng M1 giữ. Toàn bộ số tiền trên C và M1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Với phương thức, thủ đoạn như trên, ngày 11/10/2023 Bùi Văn M1 cùng với C tiếp tục trộm cắp của Công ty K gồm 01 pallet gỗ bên trên có thùng carton đựng hàng rác Ribon (dây đồng đỏ bị lỗi), khối lượng dây đồng đỏ lỗi là 306,4 kg. Sau đó, M1 bán tại điểm thu mua đồng nát ở dọc đường cho một người không rõ tên, tuổi địa chỉ được 38.300.000 đồng. Sau đó, M1 nhờ vợ là chị Nguyễn Thị S dùng tài khoản Ngân hàng A số 2903205176897 chuyển 34.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V2 số [...] của Vũ Văn C còn M1 giữ lại 4.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C gửi tin nhắn cho M1 xác nhận đã nhận tiền do M1 chuyển. Toàn bộ số tiền trên C và M1 sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ tư: Sau khi trót lọt các lần trộm cắp tài sản nêu trên, Vũ Văn C tìm hiểu giá bán các sản phẩm đồng lỗi và biết số điện thoại của anh Đặng Quang H2 là người thu mua phế liệu, C điện thoại và nhắn tin trao đổi về việc C có số đồng là sản phẩm lỗi và hai bên nhất trí giá bán. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21/10/2023, anh Nguyễn Văn H1 là lái xe tự do được Công ty TNHH D có trụ sở tại thôn T, xã T, thị xã D thuê để chở hàng cho Công ty TNHH K đến Khu công nghiệp L, tỉnh Hòa Bình. H1 điều khiển xe ô tô tải BKS 90C-082.21 đến Công ty TNHH K để nhận hàng chở đi. Trong lúc chờ bốc hàng, H1 ngồi trên cabin xe ô tô, Cung muốn nhờ anh H1 chuyển 01 thùng dây đồng trộm được của Công ty nên đi ra gọi H1 xuống nói: "Tí nữa anh chở hàng đi L, thì em có một kiện hàng gửi anh ra Đ", H1 đáp lại: "Nếu bảo vệ kiểm tra hợp lệ cho ra thì tôi chở hộ", C nói tiếp: "Anh yên tâm bảo vệ cho ra".

Sau đó, anh H1 lên cabin xe ô tô ngồi, còn C dùng xe nâng để nâng hàng lên thùng xe ô tô. Lúc này, chị T2 là quản lý kho đi ra và kiểm tra hàng trên xe ô tô. Sau khi xác nhận đủ hàng giao, chị T2 đi vào còn C tiếp tục nâng thêm 01 pallet gỗ bên trên có thùng carton đựng hàng rác R (dây đồng trắng bị lỗi), khối lượng dây đồng trắng lỗi là 307 kg. H1 nói với C “Đã hết hàng chưa để em đóng thùng” thì C nói “Hết rồi đóng thùng thôi" rồi C xin số điện thoại của H1 và nói "Anh cứ chở ra khu vực Cổng khu công nghiệp có người đón anh". Khi anh H1 điều khiển ô tô chở hàng đến gần cổng Khu công nghiệp Đ thì anh Đặng Quang H2 gọi điện cho H1 và hướng dẫn chở ra khu vực cổng Trường Mầm non Đ1. Đến nơi, H2 hỏi: "Hàng của C gửi ra à", H1 trả lời "Hàng Cung gửi cho anh" và xuống mở cửa xe và giao Pallet hàng chứa 307 kg dây đồng trắng lỗi cho H2 rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô để đi giao hàng. Sau đó H2 liên hệ với C qua mạng xã hội zalo thông báo khối lượng dây đồng, giá và xin số tài khoản Ngân hàng của C để chuyển tiền cho C, C cung cấp tài khoản Ngân hàng V4 số [...] mang tên mình cho H2 rồi H2 dùng tài khoản Ngân hàng V4 số [...] mang tên mình chuyển 45.000.000 đồng cho C. Cùng ngày, C dùng tài khoản Ngân hàng V2 số [...] chuyển 22.000.000 đồng vào tài khoản V5 số 0901000024364 mang tên Nguyễn Văn H1. Sau khi nhận được tiền, H1 nhắn tin hỏi Cung: "Sao nhiều thế", C trả lời "Em giao dịch được chỗ hàng kia, chỗ đấy em cho anh". Toàn bộ số tiền trên C và H1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ năm: Cùng phương thức, thủ đoạn trên, ngày 23/10/2023, Lê Huy N là lái xe thời vụ của Công ty TNHH D điều khiển xe ô tô tải BKS-713.31 đến Công ty K để nhận hàng chuyển đến Khu công nghiệp L, tỉnh Hòa Bình. Sau đó, C cùng với N đã trộm cắp 01 pallet gỗ bên trên có thùng carton đựng hàng rác Ribon (dây đồng đỏ bị lỗi), khối lượng dây đồng đỏ lỗi là 270 kg của Công ty K. Khi N điều khiển xe ô tô ra khỏi cổng Công ty, anh Đặng Quang H2 đã liên hệ với N hẹn gặp N ở ngõ A phường Đ, thị xã D để giao hàng. Sau khi giao Pallet hàng mà N và C đã trộm cắp được của Công ty K cho H2, N tiếp tục điều khiển xe đi giao hàng tại Khu công nghiệp L. Chiều cùng ngày, H2 đã chuyển 39.000.000 đồng cho C, C dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] mang tên mình chuyển 11.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng V3 số 0491000131557 mang tên Lê Huy N. Toàn bộ số tiền trên C và N đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ sáu: Cũng với phương thức, thủ đoạn trên, ngày 01/11/2023 C và N tiếp tục trộm cắp 01 Pallet gỗ bên trên có một thùng carton đựng các cuộn, sợi dây đồng bị lỗi màu đỏ, trong đó khối lượng dây đồng đỏ là 786 kg của Công ty K. Sau khi mang số tài sản trên ra ngoài Công ty, N đã giao cho Đặng Quang H2. H2 chuyển 120.000.000 đồng cho C, C sử dụng tài khoản Ngân hàng V4 số [...] chuyển 24.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng V5 số 0491000131557 mang tên Lê Huy N. Toàn bộ số tiền trên C và N đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu của Bùi Văn M1: 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy A30 màu xanh đen, số IMEI1: 354868102555689, số IMEI2: 354869102555687, bên trong có một sim Viettel, đã qua sử dụng (được niêm phong ký hiệu ĐT01)

  • - Thu của Vũ Văn C: 01 điện thoại di động Iphone 8Plus mặt sau màu vàng, trắng có số IMEI: 354837099689512, có ốp nhựa màu xanh, bên trong lắp 01 sim V6, đã qua sử dụng (được niêm phong ký hiệu ĐT 02)

  • - Thu 01 điện thoại di động Iphone 11Plus vỏ màu xanh, số IMEI1: 353969107788795, IMEI2: 353969107829482, bên trong lắp 01 sim V6 đã qua sử dụng (được niêm phong ký hiệu ĐT 03) do anh Đặng Quang H2 giao nộp.

  • - Thu của Lê Huy N 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, có số IMEI: 359786907051412, bên trong lắp 01 sim V6 đã qua sử dụng (được niêm phong ký hiệu ĐT 04).

  • - T4 01 điện thoại di động Iphone 6 màu bạc, có số IMEI: 354443063215721, bên trong lắp 01 sim Vinaphone, vỏ màu trắng đã qua sử dụng (được niêm phong ký hiệu ĐT 05); 01 xe ô tô THACO màu xanh dương, số máy JT733937, số khung RNHA500BKHC066930, biển số 90C-082.01 do anh Nguyễn Văn H1 giao nộp.

Quá trình điều tra: Đối với điện thoại di động Iphone 6 màu bạc, bên trong lắp 01 sim Vinaphone, vỏ màu trắng đã qua sử dụng và xe ô tô THACO màu xanh dương, BKS 90C-082.01 xác định là tài sản cá nhân của anh Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại di động Iphone 11Plus vỏ màu xanh, bên trong lắp 01 sim V6 đã qua sử dụng xác định là tài sản cá nhân của anh Đặng Quang H2 đều không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1, anh H2.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn C ở thôn Y, xã H, huyện K; chỗ ở của Bùi Văn M1 tại TDP L, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Cơ quan điều tra không thu tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản kết luận định giá số 76/KL-HĐ ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D kết luận: 06 pallet gỗ có KT(115x75x10)cm có trị giá là 180.000đồng, 06 thùng catton có trị giá 12.000đồng, Sợi dây đồng bị lỗi màu trắng có trị giá 140.000đồng/1kg, 307 kg dây đồng màu trắng có trị giá 42.980.000đồng; Sợi dây đồng bị lỗi màu đỏ có trị giá 150.000đồng/1kg, 1.719 kg dây đồng màu đỏ có trị giá 257.850.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Bùi Văn M1 đã bồi thường số tiền 10.850.000 đồng, gia đình bị cáo Lê Huy N đã bồi thường 35.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã bồi thường 5.300.000 đồng, anh Đặng Văn H5 bồi thường 3.780.000 đồng (là tổng số tiền anh H5 đã xin bớt của Vũ Văn C sau các lần giao dịch); anh Nguyễn Văn H1 bồi thường 22.000.000 đồng cho Công ty TNHH K.

Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 23/8/2024, Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quyết định: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38; 17; 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố: Bị cáo Lê Huy N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Lê Huy N 04 năm 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến ngày 25/4/2024. Thời hạn tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong thời hạn luật định, bị cáo Lê Huy N có đơn kháng cáo (đề ngày 27/8/2024), nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Huy N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Huy N; Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về hình phạt. Tuyên bố bị cáo Lê Huy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến ngày 25/4/2024. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ nên nhất trí và không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: (1) Nguyên nhân bị cáo phạm tội, lần thứ nhất bị cáo bị động, lần 2 mới chủ động, bởi lẽ phân hoá tội phạm thấy bị cáo không được bị cáo C bàn bạc trước lần thứ nhất nên không biết thùng hàng lấy ra là do bị cáo C trộm cắpcủa Công ty KOS, bị cáo N chỉ vận chuyển lấy công, lần thứ hai bị cáo N mới biết; (2) bị cáo N thực hiện hành vi vai trò không đáng kể, được chia, hưởng lợi ít, giá trị tài sản chỉ có 01 lần là thuộc trường hợp nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc nên nhận thức hạn chế; (3) So sánh mức án với bị cáo C đầu vụ với bị cáo N chưa công bằng. Vì vậy mức án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là nặng; đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, vận dụng khoan hồng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Huy N nhất trí quan điểm của Luật sư, không bổ sung gì, đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Huy N trong thời hạn, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  • [2] Về hành vi phạm tội và tội danh:

    Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Huy N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại giai đoạn điều tra, phiên toà sơ thẩm, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Huy N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  • [3] Về tính chất của tội phạm: Hành vi phạm tội của Lê Huy N và các bị cáo khác trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương cần xử lý nghiêm, tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

  • [3] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, Vũ Văn C là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò thứ nhất. Các bị cáo Lê Huy N, Bùi Văn M1, Nguyễn Tiến Đ giữ vai trò đồng phạm như cấp sơ thẩm nhận định là có cơ sở.

  • [4] Xét kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo:

    Bị cáo trình bày lý do kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo: Bị cáo chỉ là lái xe thuê, ban đầu không quen biết bị cáo Vũ Văn C sau được nhờ nên bị cáo chỉ vận chuyển thuê lấy tiền công; phạm tội vai trò không đáng kể, chỉ liên quan đến bị cáo C, không liên quan đến các hành vi của các bị cáo khác; đã thành khẩn, ăn năn nên ra đầu thú; có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; bồi thường toàn bộ thiệt hại; có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già, bị cáo là lao động chính; ông nội là Liệt sỹ; đã cùng bố đẻ nộp án phí sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá: tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, xem xét về nhân thân, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Lê Huy N mức án 04 năm 06 tháng tù. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu đã nộp án phí sơ thẩm, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo trước đó chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Xem xét toàn diện thấy hậu quả của vụ án đã được khắc phục, bị cáo phạm tội do người khác rủ rê nên căn cứ ý kiến của Luật sư bào chữa đưa ra và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, động viên bị cáo yên tâm cải tạo. Kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị cáo có căn cứ chấp nhận.

    Trong vụ án này, bị cáo N phạm tội nghiêm trọng, phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận.

  • [5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Lê Huy N không phải chịu.

  • [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Huy N, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

  1. Về hình sự, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Huy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Lê Huy N 03(Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến ngày 25/4/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Huy N không phải nộp.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - TAND thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND, Công an thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - UBND TT. Tuần Giáo, H.Tuần Giáo;
  • - Bị cáo k/c.
  • - Lưu hồ sơ; Tòa HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 73/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Huy N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger