Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024

“Yêu cầu tuyên bố không

công nhận quan hệ vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Thiện
  2. Bà Trần Thị Chín.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 89/2024/TLST – HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc: “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị B; Sinh năm: 1973
  • NCT: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  • - Bị đơn: Ông Hoàng Công D, sinh năm 1973
  • NCT: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  • (Nguyên đơn có mặt, bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hoàng Thị B trình bày:

Bà và ông Hoàng Công D trước đây có quan hệ yêu thương, tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều bất đồng với nhau về kinh tế cũng như về gia đình. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông D thường xuyên dùng lời lẽ thô tục xúc phạm, đánh đập; Đến nay vợ chồng không còn yêu thương nhau, không có giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, hạnh phúc gia đình không đạt được, nên bà xin được ly hôn với ông Hoàng Công D.

- Về con chung: Bà và ông D có 03 con chung là Hoàng Công Minh N, sinh năm 1994; Hoàng Thị Minh N1, sinh năm 1999 và Hoàng Công M, sinh ngày 23/10/2005. Các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/7/2024 bị đơn Hoàng Công D trình bày: Ông xác nhận ông và bà B chung sống với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng kí kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2022 ông D phát hiện bà B có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác; Mặc dù ông đã tha thứ để vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng kể từ đó tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp. Từ khi bà B nộp đơn đến nay vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì nhau. Hiện nay bà B yêu cầu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng, ông đồng ý yêu cầu của bà B; Do bận công việc nên ông xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

- Về con chung: Ông D xác nhận có 3 con chung như bà B đã trình bày trong đơn khởi kiện là đúng; ông D không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng vì các con đã thành niên.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Các con chung của ông D bà B là Hoàng Công Minh N, Hoàng Thị Minh N1 và Hoàng Công M cùng trình bày: Các anh, chị là con ruột của bà Hoàng Thị B và ông Hoàng Công D. Hiện nay Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết việc ly hôn giữa bà B và ông D các anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết liên quan đến quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản cũng như không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng của cha mẹ đối với các con vì các con đều đã đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trình bày ý kiến, quan điểm về vụ án: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, đảm bảo thủ tục tố tụng; Về tình cảm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà B và ông D là quan hệ vợ chồng; Cả 03 con chung của bà B và ông D đều đã thành niên, sống tự lập, không có ai yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con nên không có ý kiến; Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Hoàng Thị B có mặt, ông Hoàng Công D đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ tình cảm: Bà Hoàng Thị B và ông Hoàng Công D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1993, nhưng cho đến nay không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi hai bên tự nguyện tổ chức đám cưới vào năm 1993 bà B và ông D chung sống hạnh phúc và sinh được 03 người con chung, nhưng đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn; từ năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng; Từ tháng 5/2024 sau khi bà B nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà B với ông D là quan hệ vợ chồng thì hai người vẫn sống chung nhà nhưng không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Theo bà B trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người bất đồng quan điểm sống, ông D thường xuyên dùng lời lẽ thô tục xúc phạm, đánh đập bà; mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Theo ông D trình bày nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bà B có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, mặc dù ông đã tha thứ để vợ chồng tiếp tục chung sống, nhưng kể từ đó tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp, nên nay ông đồng ý chấm dứt quan hệ tình cảm với bà B.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định quan hệ tình cảm giữa bà B với ông D không được pháp luật công nhận là vợ chồng do sống chung với nhau từ năm 1993 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn; mâu thuẫn tình cảm giữa bà B với ông D đến nay đã trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung; vì vậy, yêu cầu của bà B đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà B với ông D là quan hệ vợ chồng là có cơ sở cần được chấp nhận.

- Về con chung: Cả 03 con chung của bà B và ông D đều đã thành niên, sống tự lập, không có ai yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm giải quyết của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 14, 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Các Điều 35, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị B đối với bị đơn Hoàng Công D. Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Hoàng Thị B với ông Hoàng Công D là quan hệ vợ chồng.
  2. Về án phí: Bà Hoàng Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009179 ngày 10/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Thành viên hội đồng xét xửThẩm phán chủ tọa phiên tòa
Trần Ngọc T – Trần Thị ChínNguyễn Văn H
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger