|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2023/DS-ST Ngày: 27 - 10 - 2023 “V/v tranh chấp hợp đồng bảo lãnh” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Bà Hồ Thị Thanh Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh” theo Quyết định hoãn phiên toà số 37/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Q.
Địa chỉ: Số D BT1, Khu đô thị P, T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thế S - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
- - Ông Phạm Tuấn D, sinh năm 1973. Có mặt.
- Địa chỉ: 4 T, Trần Quang K, thành phố N, tỉnh Nam Định;
- - Bà Đỗ Thị Minh N, sinh năm 1998; Vắng mặt.
- Địa chỉ: Số H, Đặng Văn N1, thành phố H, tỉnh Hưng Yên;
- - Ông Đoàn Minh T, sinh năm 2001. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;
- - Bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1980. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Số C TT C, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn:
- - Ông Phan Văn H, sinh năm 1954. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;
- - Bà Trần Thị T2, sinh năm 1957. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phan Văn T3, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 11 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Ông Phạm Tuấn D) trình bày:
Ngày 01/8/2022, ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 đã dùng bộ tài sản nhà, đất thuộc quyền sử dụng và sở hữu của mình tại xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để ký hợp đồng bảo lãnh cho con trai là Phan Văn T3 với nội dung:
- “+ Ngay khi biết bên C (Phan Văn T3) bỏ trốn, lập tức kêu gọi, động viên bên C sớm quay trở về đầu thú;
- + Cam kết bồi thường cho bên A (Công ty cổ phần Q) số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng nếu bên C bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp, thời gian bồi thường trong vòng 07 ngày kể từ khi nhận được văn bản thông báo bên C đã bỏ trốn của bên A;
- + Không yêu cầu bên A phải chịu bất cứ trách nhiệm gì với bên B và bên C khi bên C vi phạm nội dung hợp đồng này, miễn mọi trách nhiệm về dân sự, hình sự, kinh tế cho bên A;
- + Dùng bộ tài sản nhà đất dùng bảo lãnh nêu trên để đảm bảo việc bồi thường cho bên A nếu bên C bỏ trốn hoặc vi phạm hợp đồng này mà hết 07 ngày bên B không có đủ tiền để bồi thường cho bên A số tiền 100.00.000 (Một trăm triệu) đồng thì bên A có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền để xử lý, khởi kiện bên B ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu giải quyết theo pháp luật, phát mại tài sản bảo lãnh để bồi thường cho bên A, trong trường hợp tiền phát mại chưa đủ, bên B vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục trả đủ tiền bồi thường như đã cam kết trong Hợp đồng này;
- + Cam kết khi bên C chưa hết hạn hợp đồng về nước thì tài sản bên B đang dùng bảo lãnh cho bên A không được sang tên, chuyển nhượng, cầm cố cho bất kì ai, nếu vi phạm bên B hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Ngày 01/8/2022, lao động Phan Văn T3 ký Hợp đồng đi làm việc tại Đài Loan.
Ngày 03/8/2022, lao động Phan Văn T3 bay đến Đài Loan để thực hiện hợp đồng.
Ngày 15/8/2022, lao động Phan Văn T3 đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc.
Ngày 11/10/2022, Công ty Cổ phần Q đã có văn bản thông báo tới gia đình ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và gửi về Ủy ban nhân dân xã T và Công an xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để thông báo về việc lao động Phan Văn T3 đã bỏ trốn và đề nghị gia đình và địa phương phối hợp giúp đỡ kêu gọi Thưởng quay lại nơi làm việc nhưng đến nay gia đình ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và lao động Phan Văn T3 không có phản hồi về Công ty cổ phần Q.
Ngày 24 tháng 10 năm 2022, Bộ L1 có Công văn số 1110523260 gửi Công ty Cổ phần Q, kèm theo công văn là danh sách 40 lao động bỏ trốn, trong đó có Phan Văn T3 với số hộ chiếu K0179635, ngày bỏ trốn 15/8/2022.
Lao động Phan Văn T3 bỏ trốn thì coi là đã đơn phương cấm dứt hợp đồng lao động nhưng không về Việt Nam mà ở lại Đài Loan trái phép nên theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể xử phạt vi phạm hành chính.
Việc lao động Phan Văn T3 bỏ trốn tại Đài Loan là việc làm vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng, cư trú bất hợp pháp tại nước sở tại sẽ phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc, đặc biệt về tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền lợi của lao động Thưởng đều không được bảo đảm. Mặt khác, còn làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và uy tín của Công ty Cổ phần Q.
Lao động Phan Văn T3 bỏ trốn thì coi như đã đơn phương chấm dứt hợp đồng, tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật là vi phạm khoản 14, Điều 7 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
Lao động Phan Văn T3 còn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Q theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
Người bảo lãnh cho lao động là ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm đã thỏa thuận (100.000.000) đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 3 Điều 56 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
Do đó, Công ty Cổ phần Q khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 thực hiện đúng nội dung hợp đồng bảo lãnh và biên bản làm việc chống bỏ trốn đã ký kết với Công ty Cổ phần Q, bồi thường cho Công ty Cổ phần Q số tiền 100.000.000 đồng; Miễn trừ mọi trách nhiệm cho bên C đối với bên A và bên B do bên B bỏ trốn, vi phạm hợp đồng
- Bị đơn ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 trình bày:
- + Tại đơn kiến nghị ngày 01/6/2023, ông Phan Văn H trình bày: Ông có con trai Phan Văn T3, sinh năm 1989 làm thủ tục đi xuất khẩu lao động Đài Loan tại Công ty Q. Khi con ông xuất cảnh hồ sơ giấy tờ ký kết với công ty có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T. Khi con ông xuất cảnh, ông là bố tuổi già sức yếu, hồ sơ công ty ông không đọc kỹ. Chỉ biết ký theo yêu cầu của công ty nội dung thế nào ông không đọc. Đến nay từ ngày con đi không liên lạc về nhà. Ông không ngờ những giấy tờ của công ty ký cam kết, Công ty lại khởi kiện ông trước Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về việc bắt buộc gia đình ông phải đền bù chi phí vì con ông bỏ trốn. Hoàn cảnh hiện nay gia đình ông 2 ông bà già nuôi 2 đứa cháu dại. Ông không biết gì về việc của con ông. Vì vậy, ông làm đơn này kính mong cơ quan có thẩm quyền liên quan xem xét giải quyết. Ông không chịu trách nhiệm về việc khiếu kiện của công ty Q.
- + Tại Biên bản xác minh ngày 09/8/2023, ông H và bà T2 trình bày: Ông bà là bố mẹ của anh Phan Văn T3, hiện anh T3 đang ở Đài Loan, lâu nay không liên lạc về nhà. Ông bà không biết địa chỉ của anh T3 ở Đài Loan. Ngày 01/8/2022, tại Hà Nội ông H và anh T3 có ký hợp đồng với Công ty cổ phần Q về bảo lãnh cho anh T3 đi lao động ở nước ngoài. Tại hợp đồng bảo lãnh với số tiền bảo lãnh là 100.00.000 đồng. Tài sản đảm bảo của hợp đồng là toàn bộ nhà đất đứng tên Phan Văn H và Trần Thị T2, địa chỉ: xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có diện tích là 6316,4 m2, số thửa 4, số chứng nhận CH314123 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 13/12/2017. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang do ông H và bà T2 cất giữ, Công ty Q chỉ lấy bản sao. Ông bà đã nhận được thông báo của Công ty cổ phần Q về việc anh Phan Văn T3 đã bỏ trốn ra ngoài làm, không làm ở công ty theo hợp đồng đã ký.
- Trong hợp đồng bảo lãnh ngày 01/8/2022, tại Văn phòng công ty L2. Bà T2 cho biết bà không ký vào hợp đồng này, chỉ có ông H và anh T3 ký nên bà không đồng ý trả lại công ty. Đối với ông H cho biết khi ký ông H không đọc, công ty nói ông H ký để cho anh T3 đi nước ngoài. Vậy công ty Hoàng Gia L yêu cầu ông H1 bồi thường cho công ty 100.000.000 đồng thì ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện này. Do vậy, ông H và bà T2 không chấp nhận thanh toán tiền cho Công ty, bà T2 không ký vào Hợp đồng nhưng không yêu cầu giám định chữ ký. Ông H và bà T2 xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa sơ thẩm.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn T3: Do anh Phan Văn T3 đã rời chỗ làm việc theo hợp đồng ban đầu nên hiện tại nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của anh Phan Văn T3 cho Tòa án. Tại Công văn số 2719/QLXNC-P5 ngày 13/02/2023 của Cục Q1 - Bộ C xác định anh Phan Văn T3 đã xuất cảnh ngày 03/8/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Q buộc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng do vi phạm hợp đồng bảo lãnh cho Công ty Cổ phần Q.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (bồi thường thay) cho người lao động đi làm việc tại nước ngoài. Theo hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư liên tịch số: 01/2010/TTLT-TANDTC-BLĐTB&XH-VKSNDTC ngày 18/5/2010 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ L3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân” thì nội dung khởi kiện trên là một loại tranh chấp dân sự, do đó Hội đồng xét xử xác định đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng dân sự (Hợp đồng bảo lãnh) theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty Cổ phần Q có đơn khởi kiện ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty do con trai ông H, bà T2 là anh Phan Văn T3 vi phạm cam kết trốn khỏi làm việc. Theo Công văn trả lời của Cục Q1 Bộ C thì anh Phan Văn T3, sinh ngày 19/7/1989, xuất cảnh ngày 03/8/2022, qua cửa khẩu N2 hiện chưa thấy thông tin nhập cảnh. Anh T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đối với bị đơn ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn T3 Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn hợp lệ theo quy định pháp luật, nhưng anh T3 vắng mặt không có lí do, ông H, bà T2 xin phép vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Ngày 01/8/2022 ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và Công ty Cổ phần Q thực hiện giao kết hợp đồng bảo lãnh về việc bảo lãnh cho lao động đi làm việc tại Đài Loan và cam kết bồi thường nếu bỏ trốn.
- Ngày 01/8/2022, lao động Phan Văn T3 ký Hợp đồng đi làm việc tại Đài Loan.
- Ngày 03/8/2022, lao động Phan Văn T3 bay đến Đài Loan để thực hiện hợp đồng.
- Ngày 15/8/2022, lao động Phan Văn T3 đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc.
- Ngày 11/10/2022, Công ty Cổ phần Q đã có văn bản thông báo tới gia đình ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 về việc lao động Phan Văn T3 đã bỏ trốn và đề nghị gia đình phối hợp giúp đỡ kêu gọi Thưởng quay lại nơi làm việc nhưng gia đình ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và lao động Phan Văn T3 không có phản hồi về Công ty cổ phần Q.
- Ngày 24 tháng 10 năm 2022, Bộ L1 có Công văn số 1110523260 gửi Công ty Cổ phần Q, kèm theo công văn là danh sách 40 lao động bỏ trốn, trong đó có Phan Văn T3.
- Quá trình giải quyết vụ án ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và Công ty Cổ phần Q đều thừa nhận có việc ký hợp đồng bảo lãnh nói trên. Hội đồng xét xử thấy thấy rằng việc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 và Công ty Cổ phần Q ký kết hợp đồng là có thật, thỏa thuận cam kết giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung cam kết không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Mặc dù bà T2 khai rằng bà không ký vào hợp đồng bảo lãnh nhưng bà không xuất trình được các tài liệu để chứng minh cũng như không có yêu cầu giám định chữ ký nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
- Tại hợp đồng bảo lãnh ông H bà T2 có đảm bảo nếu không bồi thường được thì dùng tài sản là nhà đất để bồi thường cho Công ty. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần Q không yêu cầu phát mại tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn đã nộp.
Theo nội dung hợp đồng bảo lãnh, Công ty Cổ phần Q ký hợp đồng làm thủ tục cho anh T3 đi làm việc tại Đài Loan, người được bảo lãnh ông Phan Văn T3 không được đơn phương phá bỏ hợp đồng, không được bỏ trốn nơi làm việc, lưu trú bất hợp pháp, không được vi phạm nội quy nơi làm việc, nội quy nơi cư trú. Nếu vi phạm thì tự mình chịu trách nhiệm và bồi thường 100.000.000 đồng cho công ty Q. Ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 - là người bảo lãnh cam kết bồi thường cho Công ty Cổ phần Q số 100.000.000 đồng nếu anh T3 bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp, thời gian bồi thường trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo anh T3 bỏ trốn.
Tại phần trách nhiệm của bên B (bên bảo lãnh) của Hợp đồng bảo lãnh quy định: “Cam kết bồi thường cho cho bên A số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng nếu bên C bỏ trốn ra nước ngoài làm việc bất hợp pháp, thời gian bồi thường trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được văn bản thông báo bên C bỏ trốn của bên A".
Do đó, Công ty Cổ phần Q yêu cầu Toà án buộc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 thực hiện đúng nội dung hợp đồng đã ký kết với Công ty, bồi thường cho Công ty Cổ phần Q số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
Ông H, bà T2 thừa nhận đã nhận được văn bản thông báo của công ty, anh T3 vẫn ở Đài Loan nhưng anh T3 không liên lạc và ông bà không biết địa chỉ. Ông, bà cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng ông bà không đọc kỹ văn bản mà ký. Hợp đồng đã nêu rõ trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày anh T3 bỏ trốn ông bà có trách nhiệm bồi thường cho Công ty. Ông H, bà T2 không chứng minh được các căn cứ để miễn trách nhiệm của bên bảo lãnh.
Ngoài ra, tại biên bản cam kết của anh Phan Văn T3 cũng thể hiện cam kết không vi phạm, không bỏ trốn nếu tự ý phá bỏ hợp đồng, tự ý chuyển chủ, bỏ ra ngoài làm việc thì đồng ý bồi thường cho công ty, nếu không bồi thường được thì người bảo lãnh cho anh T3 có trách nhiệm bồi thường.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Q, buộc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải bồi thường số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng cho Công ty Cổ phần Q do vi phạm hợp đồng bảo lãnh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 479, khoản 2 điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 342, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Q.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí:
- Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Buộc ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Q số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
Buộc bị đơn ông Phan Văn H và bà Trần Thị T2 phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty Cổ phần Q số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012829 ngày 19/4/2023, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Nghệ An;
- - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 73/2023/DS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh
- Số bản án: 73/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh
