Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 73/2023/HS-ST

Ngày 19/9/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải.

Ông Phạm Minh Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 06/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 12/02/1985;Tại: huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lò Văn P, sinh năm 1934; Con bà: Lò Thị I, sinh năm 1935; Gia đình bị cáo có 09 anh, chị, em; bị cáo là con thứ tám; có vợ là: Lò Thị C, sinh năm 1986; có 02 con: con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại Bản án số 69/2009/HSST, ngày 20/7/2009 Lò Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133, điểm b khoản 2 Điều 232, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2003 xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, 03 năm tù về tội Chiếm đoạt vật liệu nổ. Tổng cộng hình phạt chung là 10 năm tù. Đến ngày 31/8/2015, bị cáo L đã chấp hành xong hình phạt, hiện đã được xóa án tích đối với bản án nêu trên.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2023 đến ngày 02/6/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Lò Thị C - Sinh năm: 1986; trú tại: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lò Văn L, sinh ngày 12/02/1985, trú tại bản Cóoc Cuông, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu, L khai bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 27/5/2023, L đang ở nhà một mình thì có hai nam thanh niên xe mô tô (không rõ lai lịch) đến nhà gặp L. Một trong hai nam thanh niên đó đưa cho L số tiền 300.000 đồng nhờ mua hộ H, mua được sẽ cùng nhau sử dụng. L đồng ý nhận tiền của nam thanh niên rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25F1 - 7436 (xe mô tô của Lò Thị C - vợ L) đi đến bản P, xã N, huyện T tìm mua Heroine. Tại bản Phiêng Giằng, L nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua hộ 01 gói Heroine (được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng) với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, L cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Hồi 13 giờ 00 phút ngày 27/5/2023, tại bản C, xã N, huyện T, Lò Văn L bị Công an xã N phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình bắt giữ, L thả 01 gói Heroine xuống đường để tiêu hủy chứng cứ. Công an xã N đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 52 ngày 27/5/2023 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L có khối lượng là: 1,26 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 615 ngày 29/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Vật chứng của vụ án: đối với 1,26 gam Heroine thu giữ của Lò Văn L, Cơ quan điều tra đã trích 0,24 gam làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 1,02 gam Heroine cùng 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu trắng, 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1 - 7436, hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường.

Về phần dân sự: không

Bản cáo trạng số 71/CT-VKSTĐ, ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị C trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F1 - 7436 là tài sản hợp pháp của Lò Thị C, khi bị cáo lấy xe đi Chom hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, nay hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, gia đình không có phương tiện đi lại nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho Lò Thị C, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T đánh giá như sau: Quá trình điều tra, truy tố, đối với bị cáo Lò Văn L giữ nguyên quan điểm truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Liên t 28 tháng tù đến 34 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn của Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H1, Bùi Thị T, Vũ Duy T1, Phan Ngọc C1Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 1,02 gam cùng phong bì niêm phong, hai lớp nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 1985, HKTT: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 27/5/2023”. Trên mép dán của tờ giây niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu;

Đề nghị: Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 25F1 - 7436, màu đỏ. Số khung: RLHH009005Y114287; số máy: HC09E-5175703. Cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Thị C.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lò Văn L không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Lò Văn L xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 27/5/2023, tại bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 1,26 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã N, huyện T phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Hành vi của bị cáo Lò Văn L đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Tại Bản án số 69/2009/HSST, ngày 20/7/2009 Lò Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133, điểm b khoản 2 Điều 232, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2003 xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, 03 năm tù về tội Chiếm đoạt vật liệu nổ. Tổng cộng hình phạt chung là 10 năm tù. Đến ngày 31/8/2015, bị cáo L đã chấp hành xong hình phạt, hiện đã được xóa án tích đối với bản án nêu trên.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với: Một phong bì công văn của Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H1, Bùi Thị T, Vũ Duy T1, Phan Ngọc C1Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 1,02 gam cùng phong bì niêm phong, hai lớp nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 1985, HKTT: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 27/5/2023”. Trên mép dán của tờ giây niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 25F1 - 7436, màu đỏ. Số khung: RLHH009005Y114287; số máy: HC09E-5175703. Theo lời khai của chị C và bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thì chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F1 - 7436 được mua bằng tiền của chị C do lao động mà có, bị cáo L không có đóng góp tiền vào việc mua xe. Do vậy, đây là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị C, khi bị cáo mang xe đi mua ma túy chị C không biết nên cần trả lại cho chị C.

[5] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lò Văn L khai mua của một người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý

Đối với hai nam thanh niên đến nhà và đưa cho L số tiền 300.000 đồng để mua ma túy sử dụng, L khai không biết thông tin lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Lò Thị C là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F1-7436. Quá trình điều tra xác định C không biết việc Lò Văn L sử dụng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy để sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lò Thị C là đúng quy định.

[6] Án phí:

Áp dụng điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/5/2023. Không áp dụng các hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn của Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H1, Bùi Thị T, Vũ Duy T1, Phan Ngọc C1Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 1,02 gam cùng phong bì niêm phong, hai lớp nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 1985, HKTT: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 27/5/2023”. Trên mép dán của tờ giây niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu.

    Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 25F1 - 7436, màu đỏ. Số khung: RLHH009005Y114287; số máy: HC09E-5175703.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 08/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).

  4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - Chi Cục THADS huyện Tam Đường;
  • - CQĐT, Nhà tạm giữ, CQTHAHS CA h. Tam Đường;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Dương Thanh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 19/09/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger