TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST Ngày 21/11/2023 V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cum Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền: Bà Lương Thị Mỹ Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 227/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Bùi Kim L, sinh năm 1988.
- Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Ông Ngô Hoàng H, sinh năm 1983.
- Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là bà Bùi Kim L trình bày:
Bà và ông Ngô Hoàng H chung sống vợ chồng năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay, bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Ngô Hoàng H là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông H có 01 con chung tên Ngô Bùi Thiên Ý (nữ), sinh ngày 05/4/2023. Khi không công nhận quan hệ vợ chồng bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi. Nếu ông H không cấp dưỡng số tiền 4.000.000 đồng/tháng thì bà đồng ý giao con cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là ông Ngô Hoàng H trình bày:
Ông và bà Bùi Kim L không đăng ký kết hôn nhưng có chung sống vợ chồng từ năm 2022 là đúng. Trong thời gian chung sống đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay, bà L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Điền không công nhận vợ chồng ông thống nhất.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà L có 01 con chung tên Ngô Bùi Thiên Ý (nữ), sinh ngày 05/4/2023. Nếu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng ông đồng ý giao con chung cho bà L tiếp tục nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con. Nếu bà L giao con cho ông nuôi, ông không đồng ý nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L yêu cầu được nuôi con, yêu cầu ông H cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông H thống nhất để bà L nuôi con nhưng chỉ đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Kim L và ông Ngô Hoàng H không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình chung sống bà L, ông H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông H không làm ra tiền để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Phía ông H cũng thống nhất không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L. Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Bùi Thiên Ý (nữ), sinh ngày 05/4/2023, hiện cháu Ý chưa đủ 12 tháng tuổi nên đề nghị giao con cho bà L tiếp tục nuôi, buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con bằng ½ tháng lương cơ bản cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Bùi Kim L và ông Ngô Hoàng H chung sống như vợ chồng từ năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống chung bà L và ông H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông
H không đi làm kiếm tiền để lo cho gia đình. Hiện nay, bà L, ông H đều thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng.
Ông H có nơi cư trú tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Bùi Kim L và ông Ngô Hoàng H tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2022 nhưng không có đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân giữa ông bà không tuân thủ quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không có giá trị về mặt pháp lý. Nay bà L có yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng đối với ông H và ông H cũng đồng ý. Do đó, căn cứ vào Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của bà L.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Bùi Thiên Ý (nữ), sinh ngày 05/4/2023. Khi không công nhận quan hệ vợ chồng bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Phía ông H đồng ý để bà L tiếp tục nuôi con và ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng.
Xét thấy, cháu Ý sinh ngày 05/4/2023 hiện nay dưới 12 tháng tuổi nên bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Về yêu cầu cấp dưỡng, bà L yêu cầu ông H cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Do đó, căn cứ vào mức lương cơ bản hiện nay là 1.800.000 đồng/tháng nên cần buộc ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng bằng ½ mức lương cơ bản là 900.000 đồng cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm, bị đơn phải nộp án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 7 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 9, Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Kim L và ông Ngô Hoàng H.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Bùi Thiên Ý (nữ), sinh ngày 05/4/2023 cho bà Bùi Kim L tiếp tục nuôi dưỡng, buộc ông Ngô Hoàng H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông H, không ai được quyền cản trở ông H thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con cha mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà Bùi Kim L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001618 ngày 02/10/2023 thành tiền án phí. Bà L đã nộp xong án phí.
Ông Ngô Hoàng H phải nộp án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
*Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Hà |
Bản án số 73/2023/HNGĐ-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 73/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận bà Bùi Kim L và ông Ngô Hoàng H là vợ chồng
