Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG


Bản án số: 73/2021/HS-ST
Ngày: 18-11-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu và Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa:Thi Thị Hoàng Yến – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà:Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2021/TLHS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thành H, sinh ngày 26/8/1985 tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã P, huyện K, Tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở trước khi bị bắt: Thuê trọ tại tổ 07, thôn M, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H và bà Dương Thị Kiều O; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt giam ngày 05/7/2021. Có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Đặng Hồng C, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1955; Cùng nơi cư trú tại: Số 92 đường Ô, quận C, TP Đà Nẵng (đồng thời là người làm chứng trong vụ án); Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Đỗ Thị Bích N, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 35 Q, B, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (đồng thời là người làm chứng); Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ông Lê Văn T, sinh ngày 02/01/1984; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Có mặt.

3. Người làm chứng:Huỳnh Thị T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 33 B, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3 năm 2021, Nguyễn Thành H sử dụng tài khoản facebook có nick Thanhhieu Nguyen do một mình H quản lý sử dụng nhắn tin trao đổi với một địa chỉ facebook quảng cáo mua bán tiền giả để đặt mua tiền giả với tỷ lệ 1.000.000 đồng tiền thật mua được 5.000.000 đồng tiền giả. Sau đó, H đã cung cấp các thông tin cá nhân như tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ cho trang Facebook bán tiền giả này. Sau khi xác nhận thông tin thành công, trang Facebook đã thu hồi toàn bộ tin nhắn và chặn liên lạc với H. Khoảng 10 ngày sau, Nguyễn Thành H nhận được cuộc gọi từ người giao hàng. Khi nhận gói bưu phẩm H đã trả cho người giao hàng số tiền 1.000.000 đồng rồi đem vào phòng kiểm tra, thấy bên trong có 5.000.000 đồng tiền giả gồm 10 tờ tiền giả mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng. H đã trích 1.000.000 đồng tiền giả để sử dụng trong 02 lần...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự...

[2] Về xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ... Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Với hành vi 02 lần lưu hành tiền giả với giá trị 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thành H đã phạm vào tội “Lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 207; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Lưu hành tiền giả”.
    Xử phạt: Nguyễn Thành H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 05/7/2021.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm quần áo, sim điện thoại; tịch thu sung công quỹ điện thoại Samsung; trả lại chứng minh nhân dân cho bị cáo; tiếp tục lưu giữ tờ tiền giả và bản phô tô hộ khẩu tại hồ sơ vụ án.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan An ninh điều tra CATP ĐN;
  • - Cơ quan THAHS – Công an Q, Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Trại giam Hòa Sơn;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Phan Văn Cương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2021/HS-ST ngày 18/11/2021 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về lưu hành tiền giả

  • Số bản án: 73/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lưu hành tiền giả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành H đã 02 lần lưu hành tiền giải với số tiền 1.000.000 đồng tiền giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger