Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 729/2024/HS-PT

Ngày 26/8/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương;

Ông Phan Nhựt Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 580/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/11/1992 tại Kiên Giang.

Nơi ĐKTT: ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1964 và bà Võ Ánh N, sinh năm 1966; anh, chị em: 02 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001; vợ là Nghiêm Hoàng Bảo N1, sinh năm 1990; con là Nguyễn Vỹ L, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2021cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo (theo chỉ định): Luật sư Thái Đức G – Đoàn luật sư tỉnh K; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo (theo yêu cầu): Luật sư Tăng Quốc T1 – Đoàn Luật sư Thành phố H; (có mặt).

Địa chỉ: Công ty L2 - Địa chỉ: D N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/01/2021, sau khi uống bia cùng với Nguyễn Thanh L1 và Hồ Huy P, Võ Minh K tại quán T4 trên đường C thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, Kiên Giang thì Nguyễn Minh T điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát 89C-210.18 (xe do Chu Thị H1 đứng tên chủ sở hữu và chồng của H1 là Nguyễn Đức H2 cho T mượn làm phương tiện đi lại) chở L1 về Ki ốt của T thuê ở tại số B đường P, khu phố A, phường D, thành phố P. Do vợ của T là Nghiêm Hoàng Bảo N1 khóa cửa Ki ốt đi công việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, nên T và L1 không vào Ki ốt được. T tiếp tục điều khiển xe ô tô chở L1 đến phòng 301 nhà nghỉ F thuộc Khu tái định cư K, phường D để gặp Trịnh Thục V nói chuyện. Lúc này, Thục V ở cùng em gái là Thúy V1 và Ngô Đức Q (bạn Thúy V1). Do trước đó Đậu Văn D biết Q có quen biết với Nguyễn Minh T nên D nói với Q: “thằng T đang nợ tiền người ta, tôi cần tìm nó để nói chuyện, khi nào bạn thấy nó thì điện thoại cho tôi dùm” nên Q và Thúy V1 bỏ đi ra ngoài điện thoại cho D biết là T đang ở nhà nghỉ F. Nghe vậy, D rủ Cao Xuân N2, Hoàng Trọng K1, Cao Văn T2 cùng đi đến gặp T2 để đòi tiền. Khi đi, 04 người đi 02 xe mô tô đến phòng 301 tìm gặp Minh T, L1 đang ngồi nói chuyện với Thục V thì D chửi và yêu cầu Minh T trả tiền cho D. Minh T trả lời: Tao không biết và không có thiếu tiền tụi mày. Liền lúc này D, N2, K1 xông vào túm cổ áo và dùng tay đánh vào mặt Minh T nhiều cái gây bầm tụ máu ở mắt phải, sây sát cổ tay và bầm hông trái. Thấy đánh nhau, Thục V vào nhà vệ sinh trốn, lúc này Q đi lên thấy nhóm D đánh Minh T nên khuyên: Tụi mày có gì ra khỏi nhà nghỉ giải quyết, để mọi người nghỉ ngơi. Lúc này, D, N2, K1, Văn T2, Minh T và L1 đi xuống đứng phía trước nhà nghỉ N4. D và Minh T hẹn trưa ngày 17/01/2021 gặp nhau tại quán C3 để giải quyết tiền bạc. Sau đó, N2 điều khiển xe mô tô biển số 68P1-65577 chở D, còn K1 điều khiển xe mô tô biển số 68P1-27861 chở Văn T2 chạy về. N2 chở D chạy đi trước, còn K1 chở Văn T2 chạy theo phía sau lưu thông trên đường C theo hướng xã C về xã C. Lúc này, L1 thấy mắt Minh T bị thương và dùng tay dụi mắt nên hỏi: có sao không? Minh T không trả lời mà kêu L1 lên xe, Minh T điều khiển xe ô tô chở L1 đi về, lưu thông theo hướng xe của N2, D, K1 và Văn T2 vừa đi. Khi chạy đến đầu đường giao nhau với đường C (ngã 3 đường), cách nhà nghỉ khoảng 30 mét Minh T điều khiển xe rẽ trái thì phát hiện gần va chạm vào đuôi xe của K1 và Văn T2, nên đánh lái tránh sang trái, đồng thời lúc này K1 cũng phát hiện xe của Minh T phía sau nên ngoặc tay lái tránh lên vỉa hè phía trước cơ sở mộc T5 nên tránh được sự va chạm. Sau khi tránh được sự va chạm, Minh T tiếp tục điều khiển xe ô tô lưu thông về phía trước trên đường C. Lúc này, Minh T khai: sợ nhóm của D quay lại đánh nên tăng tốc chạy nhanh về nhà. Thấy Minh T vừa lái xe vừa dùng tay dụi mắt nên L1 kêu Minh T chạy chậm thôi nhưng T không nói gì mà vẫn điều khiển xe với tốc độ khoảng 70 km/giờ, lưu thông thêm một đoạn đường khoảng 370 mét thì phát hiện D điều khiển xe chở N2 phía trước, Minh T điều khiển xe đâm thẳng vào đuôi xe của N2 và D đang lưu thông cùng chiều phía trước; xe của N2 và D dính vào đầu xe ô tô bị đẩy trượt, ngã cày trên mặt đường 71m80 thì văng ra bên lề trái đường làm D và N2 bị thương bất tỉnh. Lực đụng mạnh vào xe của N2 và D làm túi khí của xe ô tô bung ra, khói bay trong xe, T khai do hốt hoảng nên đạp phanh nhưng nhằm chân ga làm xe tiếp tục di chuyển thêm 260 mét thì động cơ xe bị hỏng tự dừng lại. Minh T và L1 rời khỏi xe và điện thoại cho P hay tin, nhờ Phục báo tin cho cơ quan Công an. Sau đó, K1, Văn T2 và Ngô Đức Q chạy đến phát hiện D và N2 bị thương nặng nên tổ chức đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, đến 14 giờ cùng ngày D tử vong còn N2 được đưa đi Bệnh viện Đ1, Bệnh viện C4 và Bệnh viện C5 và phục hồi chức năng Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 27/01/2021 ra viện, hiện tại thương tích 18%.

Hiện trường vụ án xảy ra tại số B đường C, khu phố A, phường D, thành phố P. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, chiều rộng mặt đường là 08 mét. Điểm nằm của xe mô tô là đoạn đường cong (cong về bên phải theo chiều đi của xe mô tô). Mặt đường có trãi nhựa bằng phẳng, có biển báo nguy hiểm, có biển báo tốc độ tối đa và tối thiểu nằm bên trái theo chiều xe mô tô. Điểm mốc được xác định là cột đèn điện đường số 477PQ/113 và 477-471PQ/111 nằm trong lề phải theo chiều đi của xe mô tô; lấy mép đường bên phải theo chiều đi của xe mô tô (chiều Cửa C đi C) làm chuẩn. Cột điện số 477PQ/113 nằm trong lề đường bên phải, từ chân cột điện đo thẳng ra lề chuẩn là 0,8m. Từ chân cột điện đo đến đầu vết trượt màu đen là 8m90. Vết trượt màu đen của bánh xe mô tô là một vết trượt dài màu đen, vết liền nằm phần đường bên phải theo lề đường chuẩn. Đầu vết trượt đo vào lề đường chuẩn là 2m85, đuôi vết trượt đo vào lề đường chuẩn là 2m80, chiều dài vết trượt là 6m70. Từ đầu vết trượt đo vào chân cột biển báo tốc độ tối đa cho phép nằm bên lề trái theo hướng C đi C là 6m20. Đuôi vết trượt liền với đầu vết cày. Vết cày gồm nhiều vết đứt quảng kéo dài từ ngoài đến gác chân trước, sau bên trái xe mô tô, chiều dài vết cày là 71m80. Xe mô tô ngã về bên trái, nằm sát lề trái theo chiều Cửa C đi C. Đầu xe hướng về lề đường chuẩn, đuôi xe hướng về lề trái. Từ tâm trục trước đo vào lề trái là 2m00, từ tâm trục sau đo vào lề trái là 0,6m. Từ tâm trục sau đo đến vùng dịch màu đỏ là 8m10. Vùng có chất dịch màu đỏ nằm trong lề trái, vùng dịch đỏ dài có kích thước 0,8m x 0,3m, từ điểm gần nhất của vùng dịch màu đỏ đo vào lề trái là 1m50. Từ đầu trục trước xe mô tô đo đến chân cột điện 477-471PQ/111 là 12m20, từ chân cột điện đo vào lề đường chuẩn là 3m40. Ghi nhận đoạn đường trước, trong và sau nơi xảy ra tai nạn không có vết phanh của xe ô tô. Như vậy, lỗi hoàn toàn thuộc về xe ô tô do Nguyễn Minh T trực tiếp điều khiển trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (nồng độ cồn 0,193 miligam/1 lít khí thở), điều khiển xe tốc độ cao đâm đụng vào xe mô tô của D và N2 lưu thông cùng chiều.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng đầu tháng 8/2018, do có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe để điều khiển xe ô tô tham gia giao thông cho hợp pháp nhưng không cần học và sát hạch. Nguyễn Minh T lên mạng tìm kiếm, vào một trang wed đăng ký mua 01 giấy phép lái xe hạng C với giá 15 triệu đồng, thông qua tài khoản mạng xã hội Zalo, T cung cấp thông tin và hình ảnh. Khoảng một tháng sau được shipper giao 01 giấy phép lái xe hạng C số [...], kiểm tra đúng thông tin như đã đặt mua thì Minh T thanh toán tiền cho shipper. Sau khi mua được giấy phép lái xe, Minh T sử dụng tham gia giao thông cho đến ngày phạm tội. Sau khi xảy ra vụ án, Minh T giao nộp giấy phép lái xe cho Cơ quan điều tra.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 72/KL-KTHS ngày 17/02/2021 của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận đối với Đậu Văn D, sinh năm: 1996 như sau:

  1. Các kết quả chính
    • Toàn thân có nhiều vết sây sát, rách da và bầm tụ máu rải rác.
    • Gãy 2 răng hàm trên bên phải.
    • Lỗ tai phải chảy máu.
    • Tụ máu dưới da gần toàn bộ vùng đầu.
    • Tụ máu cơ thái dương trái.
    • Tụ máu dưới màng cứng và dưới màng nhện hai bán cầu đại não.
    • Dập não vùng trán trái.
    • Nứt nền sọ sau đến xương chẩm dài 8cm.
  2. Nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 316/TgT ngày 16/7/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh K kết luận đối với Cao Xuân N2, sinh năm: 1996 như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Sẹo phần mềm vùng trán đỉnh phải, chẩm phải, bàn chân phải và bàn chân trái.
    • Chấn thương phần mềm vùng gò má phải, bả vai trái và lưng, hiện còn để lại biến đổi sắc tố da.
    • Chấn thương gây xuất huyết dưới nhện đã được điều trị ổn, hiện không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh (phim chụp CT - Scan sọ não).
  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 18%.

* Tại Kết luận giám định số 370/KL-KTHS, ngày 04/5/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” số [...] (hạng C), mang tên Nguyễn Minh T; năm sinh: 1992; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang, cấp ngày: 18/9/2018 là giả.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • Một xe ô tô biển số kiểm soát 89C-210.18 trong tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông. Do bị cáo Minh T mượn của bà Chu Thị H1 làm phương tiện đi lại, sau đó gây tai nạn làm hư hỏng. Bà H1 đã nhận lại xe này và tự sửa chữa, không yêu cầu gì nên không xem xét.
  • Một xe mô tô biển số kiểm soát 68P1-655.77 trong tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 054050 của Đậu Văn D.

Những vật chứng trên đã được giao trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 15 ngày 26/5/2021 và số 17 ngày 15/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K.

- Một giấy phép lái xe hạng C số: [...] tên Nguyễn Minh T.

* Về phần trách nhiệm dân sự: Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2022/HS-ST ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh C1 bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Đậu Văn D là ông Đậu T3 và bà Trần Thị N3 các khoản chi phí gồm: Viện phí và mai táng phí là 249.743.000 đồng; tổn thất tinh thần 150 triệu đồng và tiền chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 68P1- 655.77 bị hư hỏng do Đậu Văn D đứng tên chủ sở hữu là 18 triệu đồng. Tổng cộng: 417.743.000 đồng. Khấu trừ số tiền ông C1 đã bồi thường 210 triệu đồng; ông C1 còn phải bồi thường số tiền còn lại là 207.743.000 đồng.

Quá trình điều tra sau khi vụ án bị huỷ, bà N3 tiếp tục yêu cầu bị cáo Minh T bồi thường thêm 30 triệu đồng, khoản tiền tổn thất tinh thần.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh C1 bồi thường cho bị hại Cao Xuân N2 các khoản chi phí gồm: Chi phí điều trị là 69.999.000 đồng; bồi thường ngày công lao động do mất thu nhập là 55 triệu đồng; tổn thất tinh thần là 30 triệu đồng. Tổng cộng 154.999.000 đồng. Khấu trừ số tiền ông C1 đã bồi thường 40 triệu đồng, nên ông C1 còn phải bồi thường số tiền còn lại là 114.999.000 đồng.

* Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKSTKG-P2 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T, về tội “Giết người” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 và khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  1. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Giết người” và phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

  3. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T - 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Giết người”.

  5. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T - 09 (C2) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 09 (C2) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

  7. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của ba tội là 17 (Mười bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/01/2021.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, quyền yêu cầu thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/6/2024 bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, Hội đồng xét xử, bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình sự.

Về nội dung kháng cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tội danh, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, các tình tiết, chứng cứ trong vụ án đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội giết người có tính côn đồ, giết nhiều người, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đưa ra mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo.

- Bị cáo cùng luật sư bào chữa trình bày:

Thống nhất quan điểm của bản án sơ thẩm về tội danh, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm tình tiết, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là phạm tội giết người. Nguyên nhân cũng một phần do lỗi của phía bị hại đã đánh bị cáo dẫn đến bị cáo bức xúc, thiếu kiềm chế mà thực hiện hành vi phạm tội. Thực tế bị cáo không mong muốn tước đi mạng sống của người bị hại. Bị cáo rất ân hận, hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải nuôi con nhỏ và nhận thức có phần hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận: Trong khi đã uống rượu bia đã điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, do thiếu quan sát và không làm chủ được tốc độ nên đã đụng vào xe mô tô chạy cùng chiều do Cao Xuân N2 điều khiển chở phía sau là Đậu Văn D. Hậu quả làm Đậu Văn D tử vong do chấn thương sọ não; Cao Xuân N2 bị thương tích 18%.

Căn cứ vào Biên bản hiện trường; lời khai của những người làm chứng và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/01/2021, Nguyễn Minh T trong khi lái xe đã uống rượu bia, trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,193 miligam/1 lít khí thở, điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát 89C-210.18 đến nhà nghỉ F. Sau khi có xảy ra mâu thuẫn từ trước về vấn đề tiền bạc; bị cáo T bị nhóm của bị hại Đậu Văn D đánh gây thương tích tại nhà nghỉ F. Sau đó, nhóm của D lên xe mô tô bỏ ra về, thì bị cáo T liền điều khiển xe ô tô đuổi theo xe của D và N2, khi T phát hiện gần va chạm với xe của Hoàng Trọng K1 và Cao Văn T2 nên bị cáo T2 chủ động đánh lái tránh sang trái và tiếp tục điều khiển xe ô tô tăng tốc chạy về trước và đâm đụng vào đuôi xe của D và N2.

Qua lời khai của người làm chứng Nguyễn Thanh L1, Cao Văn T2, Hoàng Trọng K1 xác định bị cáo T2 chạy xe tốc độ cao sau khi tránh được va chạm với xe của K1 thì L1 đã nhắc nhở bị cáo chạy chậm lại nhưng bị cáo không giảm tốc độ mà cố ý lao thẳng về phía trước, khi biết D, N2 và xe mô tô bị chèn dưới bánh xe ô tô của bị cáo thì bị cáo vẫn lái xe chạy về phía trước làm xe mô tô bị đẩy trượt ngã cày trên mặt đường 71m80. Hành vi của bị cáo T2 diễn ra liên tục trong một thời gian ngắn, bị cáo có động cơ gây án rõ ràng, nhằm mục đích trả thù, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bên cạnh đó, khoảng tháng 8/2018, bị cáo T2 còn có hành vi cung cấp thông tin cá nhân và hình ảnh để thuê người khác làm giấy phép lái xe (hạng C) giả và sử dụng giấy phép lái xe giả để điều khiển xe ô tô cho đến ngày phạm tội.

Do đó, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính hung hăng côn đồ, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng của những người bị hại một cách trái pháp luật, để lại nỗi mất mát lớn lao cho gia đình bị hại D và làm ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe của bị hại N2; đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phải nhận thức được rằng việc xâm hại đến sức khỏe, tính mạng con người đều phải bị pháp luật nghiêm trị. Bên cạnh đó, bị cáo T còn làm giả và sử dụng giấy phép lái xe giả để điều khiển xe ô tô, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường trong quản lý hành chính nhà nước về giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải bị truy tố và xét xử theo quy định, trên cơ sở đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo các tình tiết, diễn biến của vụ án, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại và bị cáo có nhân thân tốt, có ông ngoại là người có công cách mạng, do đó Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 quy định “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với tội danh của Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, tuy nhiên xét thấy mức hình phạt 16 năm tù về tội “Giết người”, 09 tháng tù về tội “ Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức”, 09 tháng tù về tội “ Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” là có phần nghiêm khắc do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với các tội danh nói trên thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Giết người” và phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T – 15 (Mười lăm năm ) năm tù về tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T - 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của ba tội là 16 ( Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/01/2021.

Căn cứ khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh T để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 590 và 591 Bộ luật dân sự.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh C1 bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Đậu Văn D là ông Đậu T3, bà Trần Thị N3 các khoản chi phí gồm: Viện phí và mai táng phí 249.743.000 đồng; tổn thất tinh thần 180.000.000 đồng và giá trị chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 68P1- 655.77 bị hư hỏng do D đứng tên chủ sở hữu là 18.000.000 đồng. Tổng cộng 447.743.000 đồng. Khấu trừ số tiền ông C1 đã bồi thường 310 triệu đồng, nên ông C1 còn phải bồi thường số tiền 137.743.000 đồng (Một trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn đồng.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh C1 bồi thường cho bị hại Cao Xuân N2 các khoản chi phí gồm: Chi phí điều trị 69.999.000 đồng; ngày công lao động bị mất thu nhập 55.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng. Tổng cộng 154.999.000 đồng. Khấu trừ số tiền ông C1 đã bồi thường 40.000.000 đồng, nên ông C1 còn phải bồi thường số tiền 114.999.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Một xe ô tô biển số kiểm soát 89C- 210.18 do bà Chu Thị H1 là chủ sở hữu
  • Một xe mô tô biển số kiểm soát 68P1-655.77, giấy chứng nhận đăng ký xe số: 054050 của Đậu Văn D.

Được giao trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 15 ngày 26/5/2021 và Quyết định xử lý vật chứng số 17 ngày 15/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự có giá ngạch 5% của số tiền còn phải bồi thường (137.743.000 + 114.999.000) là 12.637.100 đồng (Mười hai triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn một trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA (HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Tuấn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 729/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: giết người; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 729/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Giết người; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger