trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 728/2024/DS-PT

Ngày: 12/12/2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Chu Tuấn Anh
Các thẩm phán:Bà Ngô Tuyết Băng
Ông Vũ Toàn Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 06 và 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 309/2023/TLPT-DS ngày 06/10/2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 463/2024/QĐ-PT ngày 22/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 596/2024/QĐ-PT ngày 14/11/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT. Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Phó Giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý. Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đức L; Bà Trịnh Thị T; Bà Nguyễn Thị T1 (có mặt bà T, bà T1).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh Đ, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số D T, phường N, quận B, Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lã Thị L1, sinh năm 1945 (văng mặt).
    Địa chỉ: Số nhà A hẻm A phố B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.
    Đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Văn T2, sinh năm 1966 (có mặt).
  2. Anh Dương Văn T2, sinh năm 1966 (có mặt).
  3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (có mặt).
    Cùng địa chỉ: Số nhà A hẻm A phố B, phương K, quận T, Hà Nội.
  4. Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1954 (vắng mặt).
    Ông Nguyễn Đình B ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1979 (có mặt).
  5. Bà Nguyễn Thị H1 (tức D2), sinh năm 1957 (có mặt).
  6. Chị Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1979 (có mặt).
    Cùng địa chỉ: Nhà C ngõ A hẻm A phố B, phường K, quận T, Hà Nội.
  7. Anh Vũ Ngọc T4, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  8. Chị Hà Thị Ngọc Á, sinh năm 1989 (văng mặt).
    Cùng địa chỉ: P L, phường T, quận Đ, Hà Nội.
  9. Ủy ban nhân dân quận T (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số 1 phố K, phường T, quận T, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Đăng D1- Chủ tịch.
  10. Văn phòng C1 (vắng mặt).
    Địa chỉ: G đường K, phường T, huyện T, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Mai O – Trưởng văn phòng.

Do có kháng cáo của Ngân hàng TMCP V là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2020 và văn bản trình bày ý kiến ngày 25/4/2023 của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V cùng các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ánh Đ vay vốn tại V1 Chi nhánh Sở giao dịch với tổng số tiền vay là 6.240.000.000 đồng bằng hợp đồng vay hạn mức số 8602237 ngày 30/8/2016 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017, cụ thể như sau:

Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016.

  • Số tiền nhận nợ: 5.940.000.000 đồng.
  • Thời hạn vay: 300 tháng, từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2041.
  • Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là: 12,5%/năm. Mức lãi suất này được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ 1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm.
  • Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/01/2017; mức điều chỉnh lãi suất bằng lãi suất bán vốn của Bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4%/ năm. Lãi suất bán vốn là mức lãi suất do Hội sở chính của Bên ngân hàng xác định từng thời kỳ.
  • Kỳ trả nợ: Bên vay phải trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 30, tổng cộng gồm 300 kỳ. Kỳ trả nợ gốc và lãi đầu tiên vào ngày 30/9/2016.

Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/04/2017:

Theo giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017, bà Nguyễn Thị Ánh Đ vay của V1 tổng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), cụ thể như sau:

  • Tổng hạn mức thẻ: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)
  • Loại thẻ phát hành : Thẻ tín dụng tín chấp- VPBankMastercard Platinum.
  • Lãi suất: Lãi suất trong hạn, quá hạn và các khoản khác được xác định theo mức lãi suất/mức phí do ngân hàng quy định từng thời kỳ đối với các loại thẻ tương ứng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là:

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của mình, bà Đ đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116(16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phường K, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 057546 mang tên bà Nguyễn Thị Ánh Đ, xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016.

Khi thẩm định, Ngân hàng thẩm định đúng quy trình như: xem xét hiện trạng theo sự chỉ dẫn của chị Đ. Ngân hàng và chị Đ có thống nhất xác định về giá trị tài sản thế chấp là 7.920.000.000 đồng. Khi Cán bộ phát vay xuống thẩm định thì có gặp ai ở trên nhà đất hay không thì chúng tôi không nắm được vì chúng tôi không phải là cán bộ phát vay.

Do khoản vay giải ngân tương đối lâu (06 năm), các kho quỹ của Chi nhánh Ngân hàng có sự luân chuyển tài liệu lưu trữ nên chưa tìm thấy tìm thấy tài liệu, hồ sơ liên quan đến quá trình thẩm định tài sản bảo đảm là nhà đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116(16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phưởng K, quận T, thành phố Hà Nội nên không có để nộp cho Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định: Thửa đất thế chấp tại V1 tồn tại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều do Cơ quan có thẩm quyền (UBND quận T) cấp. Một là Giấy chứng nhận cấp cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ, đang thế chấp tại V1, Giấy chứng nhận còn lại được cấp cho ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1 - người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Đình B (năm 1992). Hiện tại, chưa có quyết định/phán quyết nào của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi/ hủy bỏ 02 Giấy chứng nhận nêu trên.

Đối với Hợp đồng thế chấp ký giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ, Ngân hàng cho rằng Hợp đồng này phát sinh hiệu lực và có giá trị ràng buộc giữa các bên. Bởi lẽ:

Thứ nhất, Hợp đồng thế chấp giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ được ký kết bởi các chủ thể có năng lực pháp luật đầy đủ, được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận T ngày 29/8/2016 (chứng nhận đăng ký ngày 30/8/2016) theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 343 và khoản 2 Điều 350 của Bộ luật dân sự 2005, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/07/2010 của Chính phủ về Đăng ký giao dịch bảo đảm và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm.

Khoản 3, Điều 323 BLDS năm 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định: Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký.

Như vậy, Hợp đồng thế chấp giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba kể từ ngày 30/8/2016.

Thứ hai. Giả thiết giao dịch chuyển nhượng giữa ông B và Vũ Ngọc T4, Hà Thị Ngọc Á (bên nhận chuyển nhượng lần đầu) bị vô hiệu do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc đối tượng bị thu hồi thì V1 cũng được xác định là bên thứ ba ngay tình trong giao dịch này. Bởi: Mục 2, Công văn số 64TANDTC-PC ngày 05/05/2022 của TAND tối cao giải đáp một số vướng mắc trong việc áp dụng hướng dẫn tại Công văn số 02/TANDTC-PC đã nêu: “Đối với giao dịch thể chấp tài sản xác lập trước ngày 01-01-2017 thì xử lý như sau: Nếu giao dịch chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định tại điểmb khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015) thì áp dụng khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 2015 và nội dung hướng dẫn tại mục 1, phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao để xác định giao định thể chấp không bị vô hiệu.

Hợp đồng thế chấp giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ mặc dù được xác lập trước ngày 01/01/2017 nhưng giao dịch thế chấp vẫn chưa được thực hiện do khoản vay của bà Đ tại V1 chuyển quá hạn từ ngày 30/6/2018. Thời điểm này, bà Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán với V1 nên mới phát sinh trách nhiệm của Bên thế chấp trong việc dùng tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng. Mặc dù V1 đã gửi các văn bản yêu cầu bà Đ thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm nhưng vẫn không nhận được phản hồi của bà Đ. Do đó, đến thời điểm hiện tại, giao dịch thế chấp giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ vẫn chưa được thực hiện trên thực tế.

Xét về nội dung và hình thức của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/08/2016: Hợp đồng này hoàn toàn đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nội dung và hình thức quy định tại Tiểu mục 3 về Thế chấp tài sản (Từ Điều 317 đến Điều 327) Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, trong trường hợp này V1 được áp dụng khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể: “2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này còn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”.

Trong vụ việc này, sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng với vợ chồng ông B, anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đã làm thủ tục đăng ký sang tên tại UBND quận Thanh Xuân. Tiếp đó, Ánh T3 đã chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Ánh Đ. Sau đó, Đ lại chuyển nhượng cho Ánh T3 và cuối cùng đến tháng 4/2015, Á Tới lại tiếp tục chuyển nhượng cho Đ. Tất cả các lần chuyển nhượng này đều được Ánh Đ và Á, T3 thực hiện đăng ký sang tên tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi được Văn phòng đăng ký nhà đất - Chi nhánh quận T chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng đối với nhà đất nói trên, Đ đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của mình tại V1.

Đối chiếu nội dung vụ việc với quy định nêu trên, có thể khẳng định: V1 là bên thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự. Do đó giả thiết các giao dịch chuyển nhượng trước đã bị vô hiệu thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/08/2016 giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ cũng không bị vô hiệu và phát sinh hiệu lực giữa các bên và bên thứ ba có liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập bà Lã Thị L1 và ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị H (Con trai, con dâu của ông L2); ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Thị H1, Anh Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Sau khi Tòa án giải thích nội dung vụ án, quyền và nghĩa vụ của các bên, các đương sự này đều không có yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Bản thân các cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến các tài sản, giao dịch này cũng không có bất kỳ yêu cầu nào đối với việc giải quyết các giao dịch dân sự, hậu quả của giao dịch dân sự. Điều này càng chứng tỏ các yêu cầu khởi kiện của V1, trong đó có yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm là có căn cứ và phủ hợp với quy định pháp luật cũng như thực tế thực hiện giữa các bên.

Từ các căn cứ và lập luận trên có thể khẳng định: Hợp đồng thể chấp giữa V1 và bà Nguyễn Thị Ánh Đ không bị vô hiệu, các bên tham gia giao dịch có trách nhiệm thi hành: Hợp đồng này cũng phát sinh hiệu lực với bên thứ ba có liên quan. Do đó, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là: Nhà đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D, Cụm B phường K, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 057546 mang tên bà Nguyễn Thị Ánh Đ đã nêu trong đơn khởi kiện của V1 là hoàn toàn có căn cứ và cần được chấp thuận.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Đ đã trả được 68.104.412 đồng gốc và 1.315.629.463 đồng lãi. Nay bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng nên phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận đã ký trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo. Tạm tính đến ngày 29/5/2023, bà Đ còn nợ ngân hàng số tiền là:

Theo Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016:

  • Nợ gốc: 5.871.895.588 đồng.
  • Nợ lãi: 5.644.543.721 đồng. (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 47.684.077 đồng. Lãi quá hạn: 5.596.859.644 đồng).
  • Tổng gốc và lãi của hợp đồng tín dụng: 11.516.439.309 đồng.

Theo thẻ tín dụng ngày 05/4/2017:

  • Nợ gốc: 298.768.648 đồng.
  • Lãi: 1.178.351.554 đồng.
  • Tổng gốc và lãi của thẻ: 1.477.120.201 đồng.

Tổng cộng hai khoản gốc : 6.170.664.236 đồng.

Tổng cộng các khoản lãi: 6.822.895.274 đồng.

Tổng cộng gốc và lãi bị đơn phải trả: 12.993.559.510 đồng.

Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bà Đ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh liên quan đến Hợp đồng cho vay hạn mức số 8602237 ngày 30/8/2016 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017 tạm tính đến ngày 29/5/2023, bà Đ còn nợ ngân hàng số tiền là:

  • Gốc : 6.170.664.236 đồng.
  • Lãi: 6.822.895.274 đồng.
  • Tổng cộng gốc và lãi: 12.993.559.510 đồng.

Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, các văn bản tín dụng kèm theo cho đến ngày bà Đ thực tế thanh toán hết nợ cho V1.

Yêu cầu Tòa án tuyên trong Bản án V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản của bên thế chấp để thu hồi nợ cho V1. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16A-IV-c) địa chỉ: Tổ D, Cụm B phường K, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 057546 mang tên bà Nguyễn Thị Ánh Đ.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo nói trên không đủ để trả nợ cho khoản vay của bà Á Điệp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên phát mại tài sản khác của bà Nguyễn Thị Ánh Đ để thu hồi nợ.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Ánh Đ đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt do đó không có lời khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt do đó không có lời khai.

Bà Lã Thị L1 do anh T2 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Lã Thị L1 và ông Dương Đức L2 cùng đứng tên tài sản là đất và nhà ở tại địa chỉ Tổ D cụm B phường K, quận T, thành phố Hà Nội (nay là số nhà A hẻm A phố B), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 662915 do UBND quận T cấp ngày 29/01/2011 sổ vào số cấp GCN số CH-00003 cho ông L2 bà L1. Gia đình bà L1 sinh sống ở đây từ năm 1992.

Ông L2 và bà L1 mua nhà đất này của ông Nguyễn Đình B từ năm 1992 sau đó sinh sống tại nhà đất này từ năm 1992 đến nay. Khi mua có làm hợp đồng mua bán với ông B và ông B có giao sổ đỏ đứng tên ông B cho ông L2, bà L1. Năm 1992, thửa đất này thuộc địa bàn huyện T, sau khi thay đổi địa giới hành chính thì nhà đất này thuộc quận T. Gia đình bà L1 có làm thủ tục đổi địa chỉ trên sổ đỏ từ huyện T sang quận T nhưng sổ vẫn đứng tên ông B vì lúc này gia đình bà L1 chưa đủ tiền nộp thuế để sang tên đổi chủ.

UBND quận T có thông báo cho gia đình bà L1 đến nhận sổ đỏ nhưng thông báo chưa đến tay gia đình bà L1, khi gia đình bà L1 chưa đến nhận sổ đỏ thì ông B nghe được thông tin đó và ông B đã làm đơn khai báo mất sổ đỏ cũ và tự làm đơn xin xác nhận của Công an phường K và Cảnh sát khu vực Quản lý hộ khẩu về việc mất sổ đỏ. Sau đó ông B được Công an phường K và Cảnh sát khu vực Quản lý hộ khẩu xác nhận là đã làm mất sổ đỏ và ông B mang đơn đó lên UBND quận T để lấy sổ đỏ về.

Sau một thời gian không thấy quận T gửi giấy mời gia đình bà L1 đến nhận sổ đỏ, gia đình bà L1 có sang UBND quận T hỏi thì UB quận T trả lời là đã trả sổ đỏ cho ông B rồi.

Gia đình bà L1 có làm đơn và cung cấp cho UBND quận T tất cả các giấy tờ liên quan đến việc mua bán nhà đất giữa gia đình bà L1 và ông B. Sau khi Ủy ban xác minh được việc mua bán nhà đất và các giấy tờ của gia đình bà L1 cung cấp là hợp lệ thì UB quận có gửi Công văn về cho UB phường K, công an phường K để yêu cầu ông B mang sổ đỏ đến để trả cho gia đình bà L1 nhưng rất nhiều lần ông B không mang lên trả.

Sau đó gia đình bà L1 làm đơn đề nghị UBND quận T hủy sổ đỏ đứng tên ông B và cấp lại sổ đỏ đứng tên ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1 vì ông L2 và bà L1 đã mua nhà đất của ông B có giấy tờ hợp pháp chứng minh việc mua bán. UBND quận T đã hủy sổ đỏ đứng tên ông B (đã thông báo trong vòng 01 tháng theo quy định của pháp luật). Sau khi gia đình bà L1 nộp toàn bộ giấy tờ bao gồm: Sổ đỏ cũ ở huyện T cấp cho ông B; Giấy tờ mua bán nhà đất giữa ông B và bà L1 có xác nhận UBND phường K và Giấy tờ nộp thuế đất hàng năm, sau đó UBND quận T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 662915 ngày 29/01/2011 sổ vào số cấp GCN số CH-00003 cho ông L2 bà L1. Hiện nay nhà đất nói trên vẫn đứng tên bà L1 và ông L2.

Ông B hiện đang sinh sống tại số nhà C ngõ A hẻm A phố B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.

Gia đình bà L1 không biết chị Nguyễn Thị Ánh Đ là ai. Gia đình bà L1 cũng không biết tại sao nhà đất của gia đình lại xuất hiện 01 sổ đỏ khác mang tên ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á, chuyển nhượng sang cho chị Đ và chị Đ thế chấp nhà đất số nhà A hẻm A phố B cho Ngân hàng V để vay tiền.

Gia đình bà L1 được sao chụp tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được biết nhà đất của gia đình bà L1 hiện nay lại tồn tại thêm Giấy chứng nhận số BS 057546 được UBND quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á, chuyển nhượng sang cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2.

Như vậy, cùng nhà đất nhưng lại có hai giấy chứng nhận (sổ đỏ).

Gia đình bà L1 sinh sống tại địa chỉ này đã được 29 năm, đã đóng thuế đầy đủ và thực hiện đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, gia đình ở trên nhà đất này là người thật, việc thật. Việc sổ đỏ cấp cho người khác trùng với nhà đất của gia đình bà L1, gia đình bà L1 không biết và cho rằng sổ đỏ mang tên bà Hà Thị Ngọc Á là không hợp pháp.

Gia đình bà L1 đã được Tòa án giải thích pháp luật và cũng đã nhận được thông báo của Tòa án về việc nếu có yêu cầu độc lập thì phải làm đơn và nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo, tuy nhiên gia đình bà L1 cũng không có đơn yêu cầu độc lập về việc hủy Giấy chứng nhận số BS 057546 được UBND quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á, chuyển nhượng sang cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2.

Gia đình cũng không có yêu cầu độc lập đề nghị hủy Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/HĐTC ngày 23/01/2007 giữa Ngân hàng và chị Đ vì hiện nay nhà đất vẫn thuộc sở hữu sử dụng hợp pháp của gia đình, không liên quan gì đến việc thế chấp.

Anh Dương Văn T2 và chị Nguyễn Thị H trình bày:

Anh chị nhất trí với lời trình bày của bà L1 và không đề nghị hủy Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/HĐTC ngày 23/01/2007 giữa Ngân hàng và chị Đ.

Ông Nguyễn Đình B do chị Nguyễn Thị Minh C đại diện ủy quyền trình bày:

Ngày 03/12/2014 chị được bố mẹ là (ông B, bà H1 - tức D2) ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 5659.2014/HĐUQ; Quyển số 03 TP/CC -SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 thay mặt để làm các nội dung sau (Điều 2 của Hợp đồng ủy quyền):

  • -Quản lý, sử dụng toàn bộ ngôi nhà nêu trên.
  • -Chuyển nhượng ngôi nhà theo Giấy chứng nhận nêu trên theo quy định của pháp luật với các điều kiện do bên B toàn quyền quyết định (kể cả việc định giá chuyển nhượng, tìm người nhận chuyển nhượng, được nhận tiền chuyển nhượng ngôi nhà nêu trên).
  • -Tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật thế chấp ngôi nhà nêu trên theo Giấy chứng nhận nêu trên để vay vốn hoặc bảo đảm cho bên thứ ba vay vốn ngân hàng với các điều kiện, giá cả do bên B toàn quyền quyết định. Trong trường hợp Bên vay không hoàn trả được các khoản vay (bao gồm cả gốc và lãi), bên ngân hàng phát mại tài sản để thu hồi nợ thì bên B cũng được nhân danh bên A cùng với ngân hàng hoàn tất các thủ tục phát mại tài sản nêu trên.
  • Khi được ủy quyền, bên B được đại diện và nhân danh bên A quyết định mọi vấn đề có liên quan, lập và ký các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nộp các khoản thuế, phí, lệ phí phát sinh từ việc ủy quyền nói trên.

Sau khi ông B, bà H1 (tức D2) ký hợp đồng ủy quyền cho chị theo nội dung ủy quyền trên thì ông B, bà H1 không làm bất cứ thủ tục nào khác.

Ngày 05/12/1998 ông B và bà H1 được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043; Hồ sơ gốc số 5034.QĐUB/371.ĐCĐC.98 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 05/12/1998.

Nguồn gốc có Giấy chứng nhận trên là do năm 1992, ông B bán nhà đất nói trên cho ông L2, bà L1. Giấy tờ mua bán viết tay chưa làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho ông L2, bà L1.

Năm 1998, ông B, bà H1 mới được cấp Giấy chứng nhận nói trên. Sau đó Ủy ban nhân dân quận T gọi ông B lên để nhận Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043 về.

Sau khi nhận được sổ đỏ, ông L2, bà L1 có yêu cầu ông B ký cho ông L2, bà L1 một số giấy tờ để làm thủ tục sang tên sổ đỏ. Ông B yêu cầu tất cả chi phí liên quan đến việc mua bán, sang tên, chuyển nhượng là do ông L2, bà L1 phải chịu và số tiền mua bán do ông L2, bà L1 vẫn còn nợ ông B-khoảng 200.000 đồng (thời điểm năm 1992) ông L2 và con dâu là chị Nguyễn Thị H tuyên bố không trả cho ông B số tiền còn nợ mua căn nhà nêu trên hay bất kỳ chi phí với nhà nước liên quan đến tài sản đã mua của ông B, ông B không ký các văn bản, giấy tờ gì. Do đó, nhà đất ông B đã bán cho ông L2, bà L1 năm 1992 thì ông L2, bà L1 đã tự đi làm sổ đỏ, ông B không biết.

Ông B, bà H1 không được Sở T5, Ủy ban nhân dân quận T, Ủy ban nhân dân phường K thông báo về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043 và cũng không nhận được văn bản nào về việc thu hồi sổ đỏ này.

Chị nộp cho Tòa án bản phô tô Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043; Hồ sơ gốc số 5034.QĐUB/371.ĐCĐC.98 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 05/12/1998. (Bản chính của Giấy chứng nhận này vì ông B ủy quyền cho chị C nên chị C quản lý).

Nay Ngân hàng TMCP V khởi kiện bà Nguyễn Thị Ánh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng có tài sản trên và Tòa án quận B đưa ông B, bà H1 (tức D2) vào với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông B, bà Hòa đồng Ý và sẽ chấp hành theo quy định của pháp luật và sẽ cung cấp cho Tòa án các thông tin theo yêu cầu của Tòa án.

Ông B không có yêu cầu độc lập, không khởi kiện đương sự nào trong vụ án này nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị H1 (tức D2) trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của ông B và không có ý kiến gì khác.

Chị Nguyên Thị Minh C trình bày:

Chị là con gái của ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Thị H1 (tức D2).

Ngày 05/12/1998 ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Thị H1 (tức Diễn) được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất số 0106070043; Hồ sơ gốc số 5034.QĐUB/371.ĐCĐC.98).

Ngày 03/12/2014 chị được bố mẹ (ông B, bà H1 - tức D2) ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 5659.2014/HĐUQ; Quyển số 03 TP/CC -SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 thay mặt để làm các nội dung sau (theo Điều 2 của Hợp đồng ủy quyền):

  • -Quản lý, sử dụng toàn bộ ngôi nhà nêu trên.
  • -Chuyển nhượng ngôi nhà theo Giấy chứng nhận nêu trên theo quy định của pháp luật với các điều kiện do bên B toàn quyền quyết định (kể cả việc định giá chuyển nhượng, tìm người nhận chuyển nhượng, được nhận tiền chuyển nhượng ngôi nhà nêu trên).
  • -Tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật thế chấp ngôi nhà nêu trên theo Giấy chứng nhận nêu trên để vay vốn hoặc bảo đảm cho bên thứ ba vay vốn ngân hàng với các điều kiện, giá cả do bên B toàn quyền quyết định. Trong trường hợp Bên vay không hoàn trả được các khoản vay (bao gồm cả gốc và lãi), bên ngân hàng phát mại tài sản để thu hồi nợ thì bên B cũng được nhân danh bên A cùng với ngân hàng hoàn tất các thủ tục phát mại tài sản nêu trên.
  • Khi được ủy quyền, bên B được đại diện và nhân danh bên A quyết định mọi vấn đề có liên quan, lập và ký các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nộp các khoản thuế, phí, lệ phí phát sinh từ việc ủy quyền nói trên.

Thực hiện nội dung ủy quyền nêu trên, ngày 05/12/2014 chị đã ký hợp đồng chuyển nhượng Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở với ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á (theo Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số công chứng 1569.2014/HĐ-CN ngày 05/12/2014 tại Văn phòng C4).

Tài sản chuyển nhượng là toàn bộ thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16-IV- c) và toàn bộ nhà ở tại địa chỉ Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền số 0106070043; Hồ sơ gốc số 5034.QĐUB/371.ĐCĐC.98 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 05/12/1998. Đính chính chủ sử dụng đất tại GCN QSH nhà ở và QSD đất ở: ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Thị H1 (tức D2) đã được Phòng T6, quận T, thành phố Hà Nội, đóng dấu xác nhận ngày 03/12/2014.

Người trực tiếp ký Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên là chị.

Sau khi ký đồng chuyển nhượng, chị giao cho vợ chồng anh T4 chị Á bản gốc của sổ đỏ nêu trên, chị Á anh T4 giao cho chị bản cam kết và thỏa thuận vay vốn đề ngày 08/12/2014. Hai bên không giao nhà đất cho nhau do trong bản cam kết có nêu hợp đồng chuyển nhượng không mang tính chất chuyển nhượng thật.

Lý do chị thực hiện việc chuyển nhượng nhà đất nêu trên là do chị cần tiền để chi phí các khoản vay khác do nhà ông L2 bà L1 mua nhà đất của bố chị chưa trả hết tiền, bố mẹ chị cũng chưa ký giấy tờ gì để cho ông L2 bà L1 làm lại sổ.

Giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 500.000.000 đồng nhưng thực tế chị đã nhận được 200.000.000 đồng từ anh T4. Chị biết anh T4 và chị Á do một người khác giới thiệu.

Sau hai tháng chuyển nhượng chị không liên lạc được với anh T4 chị Á. Hiện nay anh T4 chị Á ở đâu chị không biết, không liên lạc được. Khi đó chị đã ra phòng C5 để tra cứu thì biết được một số thông tin là anh T4 chị Á đã thực hiện rất nhiều giao dịch chuyển nhượng liên quan đến giấy chứng nhận nêu trên.

Việc anh T4 chị Á dùng giấy chứng nhận nêu trên để làm gì chị cũng không biết nữa. Chị không biết chị Nguyễn Thị Ánh Đ là ai.

Khi chị ký hợp đồng chuyển nhượng với anh T4 chị Á chị không báo cho bố mẹ chị biết vì bố chị lúc đó bị ốm hơn nữa bố mẹ chị đã ủy quyền cho chị nên chị hực hiện nội dung ủy quyền mà không cần báo cho bố mẹ biết.

Nay Ngân hàng TMCP V khởi kiện bà Nguyễn Thị Ánh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng và phát mại tài sản thế chấp.

Ý kiến của chị là: ai là người vay ngân hàng thì người đó phải trả nợ. Trong vụ án này chị không vay tiền của Ngân hàng V.

Hiện nay gia đình chị được biết nhà đất tại Tổ D- Cụm B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội đang tồn tại hai sổ đỏ mang tên hai chủ khác nhau. Việc cấp hai số cho một tài sản một chủ chị không biết.

Iệ

Chị đã được Tòa án giải thích pháp luật nếu chị có yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa chị và anh T4 chị Á thì phải làm đơn yêu cầu độc lập và nộp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

Sau khi nghe giải thích pháp luật chị không có yêu cầu độc lập hủy hợp đồng chuyển nhượng nói trên. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại văn bản số 1719/UBND-TN&MT ngày 221/10/2021 và công văn số 1522/UBND-TP ngày 06/9/2022 của Ủy ban nhân dân quận T gửi Tòa án nhân dân quận Ba Đình:

Ngày 24/12/1991, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận số A005789 cho ông Nguyễn Đình B tại xã K, huyện T nay là phường K, quận T với diện tích 132m2 đất ở. Ngày 05/5/1992, ông Nguyễn Đình B đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông Dương Đức L2 (có xác nhận của UBND xã K ngày 05/5/1992). Tuy nhiên, ngày 05/12/1998, UBND thành phố lại cấp Giấy chứng nhận số [...] cho ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 đối với thửa đất nêu trên (địa chỉ: Tổ D cụm B, phường K, quận T; diện tích 132m2).

Ngày 25/5/2009, ông Dương Đức L2 có đơn đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận do UBND thành phố cấp cho ông Nguyễn Đình B với lý do gia đình ông Dương Đức L2 đã nhận chuyển nhượng và ăn ở ổn định tại thửa đất này từ năm 1992. Ngày 26/8/2009, UBND quận T đã có Văn bản số 1257/UBND-TN&MT đề nghị UBND thành phố, Sở T5 đã có thông báo số 391/TN&MT-VPĐKĐĐ thu hồi Giấy chứng nhận số 0106070043 đã cấp cho ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 và đề nghị UBND quận T làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận cho gia đình ông Dương Đức L2 theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/11/2011, UBND quận T đã có Quyết định số 206/QĐ-UBND cấp Giấy chứng nhận số BD662951 cho gia đình ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1 đối với thửa đất nêu trên theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.

Mặc dù, Sở T5 đã có thông báo thu hồi Giấy chứng nhận số 0106070043 từ ngày 22/9/2009 nhưng gia đình ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 vẫn sử dụng Giấy chứng nhận này để lập Hợp đồng chuyển nhượng cho gia đình ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á thửa đất tại Tổ D, Cụm B, phường K, quận T nêu trên và nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 quận T.

Ngày 30/12/2014, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận Đ1 cấp Giấy chứng nhận số BS116523 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đối với thửa đất trên. Ngày 11/02/2015, ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 0975.2015/HĐCN lập tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội. Ngày 11/3/2015 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận Đ1 đã xác nhận nội dung chuyển nhượng này vào Giấy chứng nhận.

Ngày 26/3/2015, bà Nguyễn Thị Ánh Đ đã chuyển nhượng cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á thửa đất trên theo Hợp đồng chuyển nhượng số 621/2015/HĐCN lập tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội. Ngày 31/3/2015, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận Đ1 đã trình UBND quận T cấp Giấy chứng nhận số BS057546 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đối với thửa đất trên. Sau đó, ông T4, bà Á tiếp tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ, bà Đ thế chấp tại Ngân hàng TMCP V để vay tiền.

Như vậy, việc ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 sử dụng Giấy chứng nhận số 0106070043 đã bị thu hồi để lập Hợp đồng chuyển nhượng và làm thủ tục để UBND quận T cấp Giấy chứng nhận cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á là không đúng quy định pháp luật. Ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên nên các cơ quan chức năng không thực hiện được việc thu hồi Giấy chứng nhận số BS 116523 đã cấp cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á.

UBND quận T đề nghị Tòa án thực hiện trình tự, thủ tục, vắng mặt người đại diện của UBND quận trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nêu trên kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại văn bản số 078/CV-CCVX ngày 08/8/2022 Văn phòng C1 trình bày:

Thực hiện yêu cầu của khách hàng về việc công chứng hợp đồng thế chấp và để thuận tiện cho việc giao nhận hồ sơ tài sản thế chấp tại Ngân hàng, cũng như bảo đảm nghiệp vụ Ngân hàng; Ngày 29 tháng 8 năm 2016, Công chứng viên Trương Trung Q thuộc văn phòng C1 đã thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC tại trụ sở Ngân hàng TMCP V- Chi nhánh Sở giao dịch, địa chỉ số C phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Việc thực hiện ký kết hợp đồng dựa trên sự tự nguyện của các bên và được tiến hành đúng trình tự, đúng quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Do điều kiện công việc không thể tham gia phiên xét xử của Tòa án, vì vậy, Văn phòng C1 xin được phép vắng mặt và gửi kèm theo bộ hồ sơ liên quan tới Hợp đồng thế chấp nêu trên hiện được lưu trữ tại Văn phòng để Tòa án có thêm căn cứ giải quyết đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định:

Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Điều 122, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1, Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với chị Nguyễn Thị Ánh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc chị Nguyễn Thị Ánh Đ phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 29/5/2023 là 12.993.559.510đồng, trong đó:

Theo Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016:

  • Nợ gốc: 5.871.895.588 đồng.
  • Nợ lãi: 5.644.543.721 đồng. (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 47.684.077 đồng. Lãi quá hạn: 5.596.859.644 đồng).

Theo thẻ tín dụng ngày 05/4/2017:

  • Nợ gốc: 298.768.648 đồng.
  • Nợ lãi: 1.178.351.554 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Nguyễn Thị Ánh Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2, Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016, Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 tại Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T. (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116(16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phưởng K, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, TP Hà Nội).

Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ có nghĩa vụ yêu cầu Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T xóa đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

3, Kiến nghị Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T xóa đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Hà Nội thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, TP Hà Nội. (Giấy chứng nhận này đang do Ngân hàng TMCP V quản lý).

4, Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh Đ phải chịu án phí sơ thẩm là 120.993.566 đồng.

Ngân hàng TMCP V phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp và được nhận lại 57.700.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0024444 ngày 18/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo hướng: Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa bà Nguyễn Thị Ánh Đ và Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh Đ không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ cho V1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D, cụm B, phường K, quận T, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 057546 đứng tên ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á; đã đăng ký chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ ngày 09/7/2015 để thu hồi khoản nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • -Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên kháng cáo.
  • - Anh Dương Văn T2, chị Nguyễn Thị H đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
  • - Bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Minh C đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Minh C (đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Đình B) thừa nhận việc ông Nguyễn Đình B đã chuyển nhượng nhà đất cho ông Dương Đức L2, bà Lã Thị L1 nhưng sau đó lại chuyển nhượng cho anh Vũ Ngọc T4, chị Hà Thị Ngọc Á là sai. Chị C khai chị cần tiền và vay tiền anh T4, chị Á nên mới phải làm như vậy.
  • - Các đương sự có mặt tại phiên tòa đều không yêu cầu Tòa án giải quyết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu hợp đồng thế chấp vô hiệu, các đương sự có mặt tại phiên tòa không ai yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nhưng cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội về cách tuyên án: Giành quyền khởi kiện cho các đương sự yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu trong một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

[1]. Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.

[2]. Về tố tụng và nội dung:

*Về tố tụng: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được triệu tập lần thứ hai gồm: bà Nguyễn Thị Ánh Đ, anh Vũ Ngọc T4, chị Hà Thị Ngọc Á, Ủy ban nhân dân quận T, Văn phòng C1. Nên hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

*Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị Ánh Đ vay vốn tại V1 Chi nhánh Sở giao dịch với tổng số tiền vay là 6.240.000.000 đồng bằng hợp đồng tín dụng số 8602237 ngày 30/8/2016 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017, cụ thể như sau:

Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016.

  • Số tiền nhận nợ: 5.940.000.000 đồng.
  • Thời hạn vay: 300 tháng, từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2041.
  • Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là: 12,5%/năm. Mức lãi suất này được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ 1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm.
  • Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/01/2017; mức điều chỉnh lãi suất bằng lãi suất bán vốn của Bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4%/ năm. Lãi suất bán vốn là mức lãi suất do Hội sở chính của Bên ngân hàng xác định từng thời kỳ.
  • Kỳ trả nợ: Bên vay phải trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 30, tổng cộng gồm 300 kỳ. Kỳ trả nợ gốc và lãi đầu tiên vào ngày 30/9/2016.

Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/04/2017:

Theo giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017, bà Nguyễn Thị Ánh Đ vay của V1 tổng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), cụ thể như sau:

  • Tổng hạn mức thẻ: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)
  • Loại thẻ phát hành : Thẻ tín dụng tín chấp- VPBankMastercard Platinum.
  • Lãi suất: Lãi suất trong hạn, quá hạn và các khoản khác được xác định theo mức lãi suất/mức phí do ngân hàng quy định từng thời kỳ đối với các loại thẻ tương ứng.

Các Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N); Thông tư số 12/2010/TT - NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi là Ngân hàng) và chị Nguyễn Thị Ánh Đ ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 8602237 ngày 30/8/2016 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017.

Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân cho chị Đ với số tiền 5.940.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016.

Và 300.000.000 đồng theo giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017.

Tổng số dư nợ 6.240.000.000 đồng.

Ngân hàng xác nhận, chị Đ đã trả được một số nợ gốc và nợ lãi.

Tạm tính đến ngày 29 tháng 5 năm 2023, chị Đ còn nợ Ngân hàng số tiền 12.993.559.510 đồng, trong đó:

Theo Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016:

  • Nợ gốc: 5.871.895.588 đồng.
  • Nợ lãi: 5.644.543.721 đồng. (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 47.684.077 đồng. Lãi quá hạn: 5.596.859.644 đồng).
  • Tổng gốc và lãi của hợp đồng tín dụng: 11.516.439.309 đồng.

Theo thẻ tín dụng ngày 05/04/2017:

  • Nợ gốc: 298.768.648 đồng.
  • Lãi: 1.178.351.554 đồng.
  • Tổng gốc và lãi của thẻ: 1.477.120.201 đồng.

Ngân hàng yêu cầu chị Đ phải trả số nợ gốc và lãi nêu trên.

Xét thấy, chị Đ không trả nợ cho Ngân hàng theo đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, vi phạm Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu chị Đ phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

Chị Đ phải trả Ngân hàng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 29/5/2023 là 12.985.019.805 đồng.

Chị Đ phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng theo qui định tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.

Xét bản án dân sự sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ gốc, số nợ lãi trong hạn, số nợ lãi quá hạn và nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án là đúng quy định của pháp luật, nên cần giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã quyết định. Hơn nữa, các đương sự cũng không kháng cáo về các vấn đề này.

Xét kháng cáo của nguyên đơn: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo hướng: Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa bà Nguyễn Thị Ánh Đ và Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh Đ không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ cho V1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D, cụm B, phường K, quận T, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 057546 đứng tên ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á; đã đăng ký chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ ngày 09/7/2015 để thu hồi khoản nợ.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định:

Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận T: Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116(16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phường K, quận T, Thành phố Hà Nội (địa chỉ mới: số nhà A hẻm A phố B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đang ký sang tên chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, Thành phố Hà Nội.

Hợp đồng thế chấp được ký kết bởi các chủ thể có năng lực pháp luật đầy đủ, được công chứng theo quy định của pháp luật. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, về hình thức của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ đúng quy định của pháp luật nhưng nội dung của hợp đồng thế chấp không đúng quy định của pháp luật, bởi:

Tại văn bản số 1719/UBND-TN&MT ngày 21/10/2021 và công văn số 1522/UBND-TP ngày 06/9/2022 của Ủy ban nhân dân quận T gửi Tòa án nhân dân quận Ba Đình thể hiện nội dung:

Ngày 24/12/1991, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận số A005789 cho ông Nguyễn Đình B tại xã K, huyện T nay là phường K, quận T với diện tích 132m2 đất ở. Ngày 05/5/1992, ông Nguyễn Đình B đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông Dương Đức L2 (có xác nhận của UBND xã K ngày 05/5/1992). Tuy nhiên, ngày 05/12/1998, UBND thành phố lại cấp Giấy chứng nhận số [...] cho ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 đối với thửa đất nêu trên (địa chỉ: Tổ D cụm B, phường K, quận T; diện tích 132m2).

Ngày 25/5/2009, ông Dương Đức L2 có đơn đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận do UBND thành phố cấp cho ông Nguyễn Đình B với lý do gia đình ông Dương Đức L2 đã nhận chuyển nhượng và ăn ở ổn định tại thửa đất này từ năm 1992. Ngày 26/8/2009, UBND quận T đã có Văn bản số 1257/UBND-TN&MT đề nghị UBND thành phố, Sở T5 đã có thông báo số 391/TN&MT-VPĐKĐĐ thu hồi Giấy chứng nhận số 0106070043 đã cấp cho ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 và đề nghị UBND quận T làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận cho gia đình ông Dương Đức L2 theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/11/2011, UBND quận T đã có Quyết định số 206/QĐ-UBND cấp Giấy chứng nhận số BD662951 cho gia đình ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1 đối với thửa đất nêu trên theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.

Mặc dù, Sở T5 đã có thông báo thu hồi Giấy chứng nhận số 0106070043 từ ngày 22/9/2009 nhưng gia đình ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 vẫn sử dụng Giấy chứng nhận này để lập Hợp đồng chuyển nhượng cho gia đình ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á thửa đất tại Tổ D, Cụm B, phường K, quận T nêu trên và nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 quận T.

Ngày 30/12/2014, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận Đ1 cấp Giấy chứng nhận số BS116523 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đối với thửa đất trên. Ngày 11/02/2015, ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 0975.2015/HĐCN lập tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội. Ngày 11/3/2015 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận Đ1 đã xác nhận nội dung chuyển nhượng này vào Giấy chứng nhận.

Ngày 26/3/2015, bà Nguyễn Thị Ánh Đ đã chuyển nhượng cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á thửa đất trên theo Hợp đồng chuyển nhượng số 621/2015/HĐCN lập tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội. Ngày 31/3/2015, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận Đ1 đã trình UBND quận T cấp Giấy chứng nhận số BS057546 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đối với thửa đất trên. Sau đó, ông T4, bà Á tiếp tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ, bà Đ thế chấp tại Ngân hàng TMCP V để vay tiền.

Như vậy, việc ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2 sử dụng Giấy chứng nhận số 0106070043 đã bị thu hồi để lập Hợp đồng chuyển nhượng và làm thủ tục để UBND quận T cấp Giấy chứng nhận cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á là không đúng quy định pháp luật. Ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên nên các cơ quan chức năng không thực hiện được việc thu hồi Giấy chứng nhận số BS 116523 đã cấp cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á.

Tài sản thế chấp nêu trên không thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ánh Đ (bên thế chấp) mà thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 662915 do UBND quận T cấp ngày 29/01/2011 số vào sổ cấp GCN: CH-00003. Năm 1992 ông L2 bà L1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Hòa D2.

Tuy nhiên, ông B vẫn sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043 đã bị thu hồi để lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho anhVũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á là trái quy định của pháp luật. Sau đó anh T4 chị Á lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho chị Đ. Việc chị Đ đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2 để thế chấp cho Ngân hàng TMCP V là không đúng quy định của pháp luật.

Hiện tài sản thế chấp đang tồn tại hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên hai chủ sở hữu khác nhau, cụ thể:

  • Một là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 662915 do UBND quận T cấp ngày 29/01/2011 số vào số cấp GCN: CH-00003 cho ông Dương Đức L2 và bà Lã Thị L1. (Giấy chứng nhận này là hợp pháp, hiện nay gia đình bà L1 đang sở hữu, sử dụng nhà đất và quản lý giấy chứng nhận).
  • Hai là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2. (Giấy chứng nhận này không hợp pháp, chị Đ đã dùng giấy chứng nhận này thế chấp cho Ngân hàng TMCP V, hiện Ngân hàng TMCP V đang quản lý Giấy chứng nhận này). Như vậy, việc chị Đ dùng Giấy chứng nhận này thế chấp cho Ngân hàng là không hợp pháp.

Do đó, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng và chị Đ vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và không có hiệu lực thi hành từ khi giao kết nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 tại Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T không phát sinh hiệu lực nên không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016, Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 tại Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T. (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116(16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phưởng K, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, TP Hà Nội).

Đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đình B với anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á ngày 05 tháng 12 năm 2014 tại Văn phòng C4, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á với chị Nguyễn Thị Ánh Đ ngày 11 tháng 02 năm 2015 tại Văn phòng C3, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn Thị Ánh Đ với anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á ngày 26 tháng 3 năm 2015 tại Văn phòng C2, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á với chị Nguyễn Thị Ánh Đ ngày 20 tháng 4 năm 2015 tại Văn phòng C2: Các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Khi ký hợp đồng thế chấp tài sản với chị Nguyễn Thị Ánh Đ, Ngân hàng TMCP V cũng có lỗi khi không thẩm định tài sản theo đúng quy định của pháp luật, không xác minh tài sản thế chấp nên không biết gia đình ông Dương Đức L2, bà Lã Thị L1 vẫn là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp nhà đất. Ngân hàng TMCP V cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc thẩm định tài sản bảo đảm đúng quy trình nên không có căn cứ để bảo vệ được Ngân hàng là người thứ ba ngay tình. Trong trường hợp này, bên nhận thế chấp tài sản là Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 138 Bộ luật dân sự 2005, khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 2015 và mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC.

Quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm: các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 vô hiệu nên tòa án không xem xét giải quyết.

Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ có nghĩa vụ yêu cầu Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận T thực hiện việc xóa đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

Kiến nghị Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T xóa đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

Hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Ánh Đ đang do Ngân hàng TMCP V quản lý. Giấy chứng nhận này không hợp pháp nên kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T thu hồi Giấy chứng nhận này.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm:

Ngày 09/7/2021, Tòa án nhân dân quận Ba Đình có công văn số 361/CV-TA ngày 09/7/2021 gửi Công an quận T có nội dung: Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận thấy vụ việc này có dấu hiệu hình sự nên kiến nghị Công an quận T xem xét giải quyết và có công văn phản hồi cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình biết.

Ngày 11/3/2022, Tòa án nhân dân quận Ba Đình có công văn số 81/CV-TA ngày 11/3/2022 gửi Công an quận T có nội dung: Ông Nguyễn Đình B đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043 đã bị Sở T5 có thông báo số 391/TN&MT thu hồi để lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á là trái với quy định của pháp luật, có dấu hiệu của hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận thấy vụ việc này có dấu hiệu hình sự nên kiến nghị Công an quận T xem xét giải quyết.

Ngày 12/5/2022, Chánh án Tòa án nhân dân quận Ba Đình có CV số 185/CV-TA gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T có nội dung: Ngày 11/3/2022, Tòa án nhân dân quận Ba Đình có CV số 81/CV-TA gửi Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận T kiến nghị xem xét giải quyết vụ việc có dấu hiệu hình sự. Tuy nhiên đến nay Tòa án nhân dân quận Ba Đình chưa nhận được kết quả giải quyết.

Nay đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận T cung cấp cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình biết Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận T có khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” liên quan đến việc ông Nguyễn Đình B đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0106070043 đã bị Sở T5 có thông báo số 391/TN&MT-VPĐKĐĐ thu hồi để lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á không?

Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận T đã có Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 324/QĐ-CQĐT ngày 15/7/2022 do chưa làm việc được với người liên quan đến nội dung tin báo là Nguyễn Thị Ánh Đ và chưa nhận được công văn phúc đáp của cơ quan có thẩm quyền.

Ngày 31/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 76/QĐ-CSĐT có nội dung: Phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 324 ngày 15/7/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận T về vụ việc ông Nguyễn Đình B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tổ D, cụm B, phường K (nhà số A hẻm A B, K, T, Hà Nội) trái quy định của pháp luật, có dấu hiệu của hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 30/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 138/QĐ-CQĐT ngày 30/4/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T có nội dung: Tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo về vụ việc: Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận thấy ông Nguyễn Đình B (SN:1954; HKTT: số C ngõ A hẻm A B, K, quận T, Hà Nội) lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái quy định của pháp luật, có dấu hiệu của hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tháng 12/2014.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm:

Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã có CV số 114/CV-TA ngày 28/3/2024 gửi Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận T có nội dung: “Hồ sơ vụ án thể hiện có Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 138/QĐ-CQĐT ngày 30/4/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T có nội dung: Tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo về vụ việc: Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận thấy ông Nguyễn Đình B (SN:1954; HKTT: số C ngõ A hẻm A B, K, quận T, Hà Nội) lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái quy định của pháp luật, có dấu hiệu của hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tháng 12/2014.

Để có cơ sở xem xét giải quyết các vụ án dân sự đúng quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T cung cấp thông tin: Sau khi ra Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 138/QĐ-CQĐT ngày 30/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm chưa? Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T cung cấp kết quả giải quyết (nếu có)?".

Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận T đã có CV số 4696 ngày 24/9/2024 trả lời Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội có nội dung chính: “Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận T đang thụ lý xác minh tin báo về tội phạm của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội về việc ông Nguyễn Đình B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa chỉ: tổ D, cụm B, phường K (nhà số A hẻm A B, K, T, Hà Nội) trái quy định của pháp luật, có dấu hiệu của hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tháng 01/2011 theo Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm số 209/QĐ-CQĐT ngày 25/3/2022 của Cơ quan C6.

Ngày 30/4/2023, Cơ quan C6 đã ra Quyết định Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo nội dung tin báo cảu Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Do chưa đủ căn cứ phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nên Cơ quan CSĐT-CAQ T vẫn tiếp tục tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo nội dung tin báo của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Do thời gian giải quyết tin báo tố giác tội phạm đã lâu kể từ khi Tòa án quận B có tin báo từ 09/7/2021. Đến 30/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận T lại ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nên việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã xét xử vụ án sơ thẩm vào ngày 29/5/2023 và Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử vụ án phúc thẩm vào 06/12/2024 là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tiếp tục kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ dấu hiệu hình sự của ông Nguyễn Đình B và những người liên quan khác liên quan đến hành vi: ông Nguyễn Đình B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa chỉ: tổ D, cụm B, phường K (nhà số A hẻm A B, K, T, Hà Nội) trái quy định của pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm xác định đúng án phí và nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm.

* Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nhưng cần sửa bản án sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình về phần nhận định và cách tuyên án như đã phân tích trên.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Ngân hàng TMCP V không phải phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội về cơ bản là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

  • - Các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Các Điều 122, 131 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong Hợp đồng tín dụng;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP V. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 87/20243DS-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, cụ thể:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với chị Nguyễn Thị Ánh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc chị Nguyễn Thị Ánh Đ phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 29/5/2023 là 12.993.559.510 đồng, trong đó:

  • - Theo hợp đồng tín dụng số 8602237 ngày 30/8/2016 kèm Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016:
    • Nợ gốc: 5.871.895.588 đồng.
    • Nợ lãi: 5.644.543.721 đồng. (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 47.684.077 đồng. Lãi quá hạn: 5.596.859.644 đồng).
    • Tổng cộng gốc và lãi: 11.516.439.309 đồng
  • - Theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017:
    • Nợ gốc: 298.768.648 đồng.
    • Nợ lãi: 1.178.351.554 đồng.
    • Tổng cộng gốc và lãi: 1.477.120.202 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Nguyễn Thị Ánh Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 8602237 ngày 30/8/2016 kèm Khế ước nhận nợ số 8602237 ngày 30/8/2016 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/4/2017.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về yêu cầu kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016, Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 tại Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T. (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 157, tờ bản đồ số F48a-116 (16A-IV-c) địa chỉ tại: Tổ D cụm B phường K, quận T, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho ông Vũ Ngọc T4 và bà Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, Thành phố Hà Nội).

Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ có nghĩa vụ yêu cầu Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T xóa đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

3. Kiến nghị Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T xóa đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/8/2016 đối với tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03237/2016/HĐTC ngày 29/8/2016 giữa Ngân hàng TMCP V và chị Nguyễn Thị Ánh Đ.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hà Nội thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 057546, số vào số cấp GCN: CH 02089, số 1181/QĐ/UBND do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 31/3/2015 cho anh Vũ Ngọc T4 và chị Hà Thị Ngọc Á đăng ký sang tên chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Ánh Đ theo hợp đồng chuyển nhượng số 799/2015/HĐCN ngày 20/4/2015 tại Văn phòng C2, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận này đang do Ngân hàng TMCP V quản lý).

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ dấu hiệu hình sự của ông Nguyễn Đình B và những người liên quan đến hành vi: ông Nguyễn Đình B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa chỉ: tổ D, cụm B, phường K (nhà số A hẻm A B, K, T, Hà Nội) trái quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.993.560 đồng. Ngân hàng TMCP V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.000.000 đồng nên được trả lại 57.700.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0024444 ngày 18/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo là Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại Ngân hàng TMCP V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007880 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 728/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 728/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm số 728 - Tranh chấp HĐ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger