|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 727/2024/HS-PT Ngày 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương;
Ông Phan Nhựt Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 476/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thanh Phong và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Trần Thanh P, sinh ngày: 19/11/1981, tại huyện G, tỉnh Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Số A, khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Số A, khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Quốc Tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; Con ông Trần Tứ P1 và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ: Danh Thị Thu Đ1; Con 02 người: Lớn sinh năm 2007; nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 09/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).
- Họ và tên: Huỳnh L, sinh ngày: 09/12/1979 tại Đồng Tháp. Nơi ĐKTT: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Quốc Tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Bác sỹ; Con ông Huỳnh Văn S và bà Lâm Thị Hồng L1; Vợ: Ngô Yến N; Con, 04 người: lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 09/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).
- Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền N1, sinh ngày: 12/5/1957 tại Kiên Giang; Nơi ĐKTT: L23, V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: căn 119 Chung Cư, D N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Q: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Cộng tác viên Trung tâm D2; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Võ Thị H, sinh năm 1922 (chết); Chồng: Nguyễn Hữu L2; Con, 03 người: lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 09/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).
- Họ và tên: Nguyễn Chí L3, sinh ngày: 10/12/1967, tại Kiên Giang. Nơi ĐKTT: ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Quốc Tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Cộng tác viên Trường Trung cấp nghề dân tộc nội trú tỉnh K; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị T2; Vợ: Bùi Thị L4, sinh năm: 1972; Con, 02 người: lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).
- Họ và tên: Lê Thị Hồng G, sinh ngày: 01/01/1982, tại Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Số B khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Quốc Tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Cộng tác viên Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnh K; Con ông Lê Văn T3 và bà Nguyễn Thị L5; Chồng: Nguyễn Thanh D; Con có 02 người: lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).
- Họ và tên: Lê Hoàng X, sinh ngày: 01/01/1960, tại Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Số A N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Q: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Cộng tác viên Trung tâm dạy nghề Thanh niên tỉnh D2; Con ông Lê Văn L6 và bà Nguyễn Thị Â, sinh năm 1935; Vợ: Bùi Thị N2, sinh năm: 1962; Con: Lê Tuấn V, sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt ngày 25/8/2023. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt).
- Những người bào chữa cho các bị cáo:
- Luật sư Đỗ Thùy T4 - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang, bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Thanh P.
- Luật sư Phan Văn Triều A - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang, bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Chí L3.
- Luật sư Nguyễn D1- Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang, bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thị Hồng G
- Luật sư Đường Minh Q- Thuộc đoàn luật sư tỉnh K, bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Thị Huyền N1.
- Luật sư Nguyễn D1 - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang, bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trung tâm Y tế huyện G được thành lập theo Quyết định số 2048/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh K (trên cơ sở sáp nhập lại Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Trung tâm Y tế và Bệnh viện Đa khoa huyện G), là đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế, có tư cách pháp nhân, con dấu, trụ sở, tài khoản riêng theo quy định.
Về con dấu: Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh cấp cho Trung tâm Y tế huyện G giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu số 1472/ĐKMCD ngày 31/10/2018. Ngày 26/11/2018, Trung tâm Y tế huyện G ban hành Quyết định số 331/QĐ-TTYT về quy chế quản lý và sử dụng con dấu. Đến ngày 03/12/2018, Trung tâm Y tế huyện G họp đơn vị và thống nhất: Con dấu phải được để trong tủ tại phòng Tổ chức hành chính. Ngoài giờ hành chính có chuyển bệnh, tua trực bảo vệ chỉ phụ trách mở tủ đóng dấu giấy chuyển tuyến, chuyển viện, giấy công lệnh, lệnh đều xe để phục vụ cho công tác chuyển tuyến, chuyển viện ngoài giờ hành chính.
Về quy trình khám sức khỏe tại Trung tâm Y tế huyện G thực hiện theo Thông tư liên tịch số 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT ngày 21 tháng 8 năm 2015 của liên Bộ Y tế - Bộ G1 vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô, quy định về cơ sở y tế khám sức khỏe cho người lái xe và Trung tâm Y tế huyện G đã ban hành kế hoạch, quyết định phân công bác sĩ phụ trách khám sức khỏe.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Trần Thanh P (nhân viên bảo vệ Trung tâm Y tế H) và Danh Chánh T, Huỳnh L và Lâm Thị Minh P1 (bác sĩ Trung tâm Y tế H) vì mục đích vụ lợi đã thực hiện không đúng quy định nêu trên; P, T, L và P1 lợi dụng nhiệm vụ được giao đã ký và đóng dấu khống giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám để bổ sung hồ sơ sát hạch giấy phép lái xe hạng A1, cùng với sự giúp sức của Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G và Lê Hoàng X (Cộng tác viên) trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021.
Căn cứ vào kết quả điều tra, kết quả giám định, lời khai nhận của các bị can và người làm chứng, người liên quan đã có đủ cơ sở truy tố các bị can về hành vi phạm tội “Giả mạo trong công tác”, như sau:
1. Đối với Trần Thanh Ph
Trần Thanh P là nhân viên bảo vệ trực thuộc Phòng Tổ chức - Hành chính Trung tâm Y tế huyện G, tỉnh Kiên Giang từ năm 2007 đến ngày 09/3/2023. Trần Thanh P được giao quản lý chìa khóa các phòng ban của Trung tâm Y tế và được lãnh đạo phân công giữ chìa khóa tủ con dấu theo tua trực đóng dấu ngoài giờ hành chính để đóng dấu các trường hợp có giấy chuyển viện lên tuyến trên, đóng công lệnh và đóng dấu lệnh điều xe cứu thương ngoài giờ hành chính và thứ 7, chủ nhật.
Khoảng đầu năm 2019, P quen biết với Nguyễn Chí L, Lê Thị Hồng G và Lê Hoàng X là cộng tác viên của Trung tâm dạy nghề, làm dịch vụ dạy thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1, thường xuyên đưa học viên đi khám sức khỏe để bổ sung hồ sơ thi sát hạch giấy phép lái xe mô tô hai bánh hạng A1. Trong quá trình dẫn học viên đi khám sức khỏe, Nguyễn Chí L, Lê Thị Hồng G và Lê Hoàng X có nhờ P trình ký dùm một số trường hợp học viên không có mặt trực tiếp đi khám sức khỏe hoặc trường hợp hết giờ khám... Sau đó, P nhờ bác sĩ Danh Chánh T, Huỳnh L1 và Lâm Thị Minh P1 ký xác nhận giấy khám sức khỏe của những trường hợp trên. Khi ký xong, P đưa giấy này đến bộ phận thu phí để đóng lệ phí và lấy số theo quy định.
Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, P trao đổi với L, G và X không cần dẫn người khám sức khỏe để bổ sung hồ sơ thi sát hạch giấy phép lái xe mô tô hai bánh hạng A1 trực tiếp đến khám mà chỉ cần mang giấy khám sức khỏe được dán ảnh và ghi đầy đủ thông tin cá nhân của học viên đưa cho P để nhờ các bác sĩ Tuy, P1, L1 ký xác nhận vào nội dung khám trên giấy khám sức khỏe và ký phần kết luận. Sau khi ký xong, P mang lên bộ phận văn thư mở khóa tủ con dấu lấy con dấu tròn của Trung tâm Y tế đóng dấu vào giấy khám sức khỏe vào thời gian ngoài giờ hành chính. Mỗi giấy khám sức khỏe, L, G và X chi trả cho P 70.000 đồng. Số tiền này, P không nộp vào ngân sách Nhà nước mà chia lại cho mỗi bác sĩ có ký khống vào nội dung khám lâm sàng 20.000 đồng; ký phần kết luận 30.000 đồng và P đóng dấu hưởng lợi 20.000 đồng.
Ngoài ra, Trần Thanh P còn nhận đóng dấu giấy khám sức khỏe do Lâm Thị Minh P1 nhận làm khống cho Nguyễn Thị Huyền N là 391 giấy khám sức khỏe. Mỗi giấy P đóng dấu cho P1 được hưởng lợi 20.000 đồng. Số lượng giấy khám sức khỏe P1 nhờ đóng dấu, P sẽ trừ lại số lượng các giấy khám sức khỏe mà trước đó đã nhờ P1 ký xác nhận khống và nhận phần tiền còn lại.
Tổng số giấy khám sức khỏe mà P nhận làm khống cho L, G, X và đóng dấu cho P1 là 1.141 giấy, số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có là 22.820.000 đồng.
2. Đối với Lâm Thị Minh P
Lâm Thị Minh P công tác tại Trung tâm Y tế huyện G từ tháng 01/1995 đến ngày 09/3/2023, là bác sĩ Khoa sản thuộc Trung tâm Y tế huyện G. Trong quá trình công tác ở Trung tâm Y tế, P cấu kết với Trần Thanh P1 và Nguyễn Thị Huyền N ký khống các giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, cụ thể:
- Qua trao đổi với Trần Thanh P1 về việc ký khống giấy khám sức khỏe, P đồng ý và ký xác nhận vào phần khám lâm sàng mà không có người trực tiếp đến khám, mỗi giấy P1 trả cho P 20.000 đồng. Tổng số 135 giấy, thu lợi bất chính 2.700.000 đồng.
- Ngoài ra, P có quen biết Nguyễn Thị Huyền N là cộng tác viên, P thỏa thuận với N việc làm khống giấy khám sức khỏe mà không cần người trực tiếp đến khám, khi gửi giấy khám sức khỏe cho P phải ghi đầy đủ thông tin cá nhân, có dán ảnh. Tổng số giấy khám sức khỏe N gửi P ký khống 391 giấy, mỗi giấy P thu 70.000 đồng. Sau đó, P trao đổi với Danh Chánh T (chồng của P) ký khống vào phần kết luận hoặc P giả chữ ký của Tuy ký kết luận; sau khi ký xong P đưa cho P1 đóng dấu tròn của Trung tâm Y tế huyện G vào giấy khám sức khỏe. Phụng chi Danh Chánh T ký kết luận, mỗi giấy hưởng lợi 10.000 đồng; P ký phần lâm sàng hưởng lợi 40.000 đồng/giấy và ký giả chữ ký của T1 ký kết luận 191 giấy, hưởng lợi là 50.000 đồng/giấy và P1 hưởng lợi mỗi giấy 20.000 đồng.
Tổng số giấy khám sức khỏe mà P đã ký khống là 597 giấy, số tiền thu lợi bất chính là 23.090.000 đồng (trong đó: ký phần khám lâm sàng 135 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 20.000 đồng, số tiền 2.700.000 đồng; ký giả chữ ký của Tuy phần kết luận 191 giấy, mỗi giấy 50.000 đồng, số tiền 9.550.000 đồng; ký phần lâm sàng cùng Tuy 271 giấy, mỗi giấy 40.000 đồng, số tiền 10.840.000 đồng).
3. Đối với Huỳnh L
Huỳnh L công tác tại Trung tâm Y tế huyện G từ năm 2008 đến ngày 09/3/2023 được bổ nhiệm chức vụ Trưởng khoa Ngoại Tổng hợp thuộc Trung tâm y tế huyện G. Huỳnh L trực tiếp khám chữa bệnh cho bệnh nhân có liên quan đến lĩnh vực khoa ngoại (cơ xương, khớp, vận động, ngoại thần kinh và được Trung tâm Y tế phân công khám sức khỏe cho người lái xe theo Thông tư 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT, được phân công nội dung khám lâm sàng gồm: Tâm thần, thần kinh, mắt, cơ xương khớp, tim mạch, nội tiết, không được phân công ký kết luận). Do L và P cùng công tác tại Trung tâm Y tế huyện G, P nói do hoàn cảnh khó khăn, nhận làm giấy khám sức khỏe nhưng không có người trực tiếp đến khám để có thêm thu nhập. Trong thời gian từ năm 2019 cho đến năm 2021, P trao đổi, nhờ L ký xác nhận khống vào giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám sức khỏe, L đồng ý ký vào phần nội dung khám lâm sàng và phần kết luận.
Tổng số giấy khám sức khỏe mà Huỳnh L đã ký là 671 giấy (trong đó: ký phần khám lâm sàng 120 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 20.000 đồng; ký phần kết luận 551 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 30.000 đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính là 18.930.000 đồng.
4. Đối với Danh Chánh T
Danh Chánh T công tác tại Trung tâm Y tế huyện G từ tháng 01/1995 đến ngày 09/3/2023; chức vụ Trưởng khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh thuộc Trung tâm Y tế huyện G. Trong thời gian từ năm 2019 cho đến năm 2021, P trao đổi và nhờ T ký xác nhận vào giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám và T đồng ý. Khi có giấy khám sức khỏe cần ký (giấy chỉ có dán ảnh và ghi thông tin cá nhân), P điện thoại yêu cầu Tuy đến nhà P (thuộc khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang) để ký khống giấy khám sức khỏe là 129 giấy, thu lợi bất chính số tiền 3.360.000 đồng (trong đó: ký phần khám lâm sàng 51 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 20.000 đồng và ký phần kết luận 78 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 30.000 đồng).
Ngoài ra, T còn nhận ký khống các giấy khám sức khỏe do Lâm Thị Minh P1 (vợ của T) nhận làm khống cho Nguyễn Thị Huyền N. Phụng nhờ Tuy ký phần khám lâm sàng và ký phần kết luận. Khi ký giấy khám sức khỏe khống thì P1 gọi điện thoại Tuy đến phòng khám của P1 tại chợ G để ký. Tổng số giấy khám sức khỏe Tuy ký vào phần kết luận 271 giấy, mỗi giấy 10.000 đồng, tổng thu lợi số tiền 2.710.000 đồng.
Tổng số giấy khám sức khỏe mà T đã ký khống là 400 giấy, số tiền thu lợi bất chính là 6.070.000 đồng.
5. Đối với Nguyễn Chí L
Nguyễn Chí L là cộng tác viên của T Trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnh Kiên Giang và Trung tâm D; L nhận dạy lý thuyết cho học viên dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1 từ năm 2018 đến ngày 23/8/2023. Trong quá trình dạy lý thuyết, L nhận làm hồ sơ, thu tiền của mỗi học viên từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Lúc đầu, L dẫn học viên trực tiếp đến khám sức khỏe tại Trung tâm Y tế huyện G, lệ phí khám sức khỏe 100.000 đồng. Sau đó, L quen biết với Trần Thanh P, có trường hợp học viên vắng mặt hoặc hết giờ khám, L nhờ P trình bác sĩ khám vắng mặt được và trực tiếp trả tiền lệ phí cho P. Từ đó về sau, P và L thỏa thuận với nhau không cần dẫn người trực tiếp đến khám, chỉ mang giấy khám sức khỏe có dán ảnh, ghi đầy đủ thông tin học viên và đưa cho P 70.000 đồng/giấy. Từ đó, Trần Thanh P nhờ các bác sĩ ký khống xác nhận nội dung khám lâm sàng và phần kết luận, khoảng 02 đến 04 ngày sau thì P gọi điện thoại cho L đến nhận. Khi giao và nhận giấy khám sức khỏe thì L hẹn gặp P tại quán C ở gần bến đò tại thị trấn G. Ngoài ra, L có nhận làm các giấy khám sức khỏe một số cộng tác viên khác, như: Lương Văn Đ (trường T3), Nguyễn Kim B (vợ thầy M - bán căn tin trong Trường T3). L nhận làm mỗi giấy khám sức khỏe là 100.000 đồng, số lượng cụ thể thì không nhớ.
Tổng số giấy khám sức khỏe mà L đưa cho Trần Thanh P1 làm khống mà không có người trực tiếp đi khám 330 giấy, L thu của mỗi học viên 100.000 đồng/giấy, trả P1 70.000 đồng/giấy, L được hưởng 30.000 đồng/giấy. Ngoài ra, L còn tự khai nhận đưa cho Trần Thanh P1 làm khống mà không có người trực tiếp đi khám 70 giấy. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có của L 12.000.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 626/KL-KSHS của Phòng K Công an tỉnh K kết luận có chữ viết của bị can trên 330 giấy khám sức khỏe.
6. Đối với Nguyễn Thị Huyền N
Nguyễn Thị Huyền N là cộng tác viên của Trung Tâm D, N nhận dạy lý thuyết và hướng dẫn thực hành cho học viên dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1 từ năm 2019 đến năm 2021. Trong quá trình nhận dạy lý thuyết, N nhận làm hồ sơ và yêu cầu học viên cung cấp ảnh, photo chứng minh nhân dân, mỗi học viên nộp tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng tùy theo địa điểm xa gần. N trực tiếp đến nhà học viên, dạy thực hành, hẹn học viên đến cơ sở sát hạch giấy phép lái xe để hướng dẫn.
Đối với việc làm khống các giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám, N quen biết với Lâm Thị Minh P2 là bác sĩ công tác tại Trung tâm Y tế huyện G, N và P2 thỏa thuận với nhau thu tiền mỗi giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám 70.000 đồng/giấy. Các giấy khám sức khỏe N đã điền thông tin, dán ảnh; còn P2 phụ trách ký xác nhận các nội dung khám và ký phần kết luận. Các giấy khám sức khỏe mà P2 làm khống cho N thì P2 ký nội dung lâm sàng, T ký phần kết luận và P1 đóng dấu của Trung tâm Y tế huyện G, không có ghi thông tin nội dung khám và N sẽ tự ghi vào các nội dụng khám tại mục khám lâm sàng và mục phần kết luận ghi theo mẫu mà P2 đã cung cấp cho N.
Trong đó, N có nhận làm giấy khám sức khỏe cho học viên của một số công tác viên khác cùng công tác với Trung tâm D mà không trực tiếp có người đến khám, khi nhận làm mỗi giấy khám sức khỏe là 110.000 đồng (Trong đó: tiền ảnh và hồ sơ 25.000 đồng, tiền làm giấy khám sức khỏe là 70.000 đồng, còn lại 15.000 đồng thì N hưởng lợi).
Tổng số giấy khám sức khỏe N gửi P2 làm khống mà không có người trực tiếp đi khám là 391 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 15.000 đồng, số tiền N hưởng lợi do hành vi phạm tội mà có 5.865.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 739/KL-KSHS ngày 13/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận có chữ viết của bị can N trên 391 giấy khám sức khỏe.
7. Đối với Lê Thị Hồng G
Lê Thị Hồng G là cộng tác viên với Trường T4 nội trú tỉnh Kiên Giang. Gấm nhận dạy lý thuyết cho học viên dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1 từ năm 2018 đến ngày 23/9/2023. Trong quá trình nhận dạy lý thuyết và làm hồ sơ, Gấm thu mỗi học viên từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Gấm hẹn học viên tại quán cà phê phía trước Bưu điện huyện G để hướng dẫn dạy lý thuyết và thực hành tại cơ sở sát hạch trước khi thi 01 ngày. Đối với việc khám sức khỏe thì học viên tự đi khám. Thời gian sau, G có trao đổi với Trần Thanh P1 việc khám sức khỏe mà không cần có học viên trực tiếp đến khám và P1 đồng ý giúp. Gấm đưa giấy khám sức khỏe có dán ảnh và ghi thông tin cá nhân của học viên đưa cho P1. Sau đó khoảng 02- 03 ngày, P1 gọi điện thoại cho G giao giấy khám sức khỏe hoàn chỉnh, mỗi giấy P1 thu số tiền 70.000 đồng/giấy; Gấm thu của mỗi học viên là 100.000 đồng/giấy. Số giấy khám sức khỏe mà Cơ quan điều tra thu thập được, G nhận làm khống 18 giấy, thu lợi 30.000 đồng/giấy, số tiền thu lợi bất chính 540.000 đồng.
Ngoài ra, G còn tự khai nhận với cách thức như trên, G đưa cho P1 làm khống giấy khám sức khỏe mà không có học viên trực tiếp đến khám khoảng 100 giấy, G không nhớ rõ họ tên cụ thể từng người, số tiền thu lợi 3.000.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 627/KL-KSHS của Phòng K Công an tỉnh K kết luận có chữ viết của bị can trên 18 giấy khám sức khỏe.
Như vậy, Lê Thị Hồng G nhận làm khống giấy khám sức khỏe cho học viên không trực tiếp đến khám là khoảng 118 giấy, thu lợi 30.000 đồng/giấy. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 3.540.000 đồng.
8. Đối với Lê Hoàng X
Lê Hoàng X là Cộng tác viên thuộc Trung tâm D, nhận dạy lý thuyết để học viên dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1 từ năm 2017 đến ngày 25/9/2023. Lê Hoàng X có nhận làm hồ sơ, thu tiền của học viên từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Trong hồ sơ sát hạch lái xe, phải có giấy khám sức khỏe, việc khám sức khỏe do học viên tự khám hoặc X dẫn đi, gồm: Bệnh viên Đa khoa tỉnh; Phòng Khám Đ1 - thuộc huyện C; Phòng Khám Đ2, thành phố R. Tại các cơ sở trên học viên có mặt để khám, nộp lệ phí khám mỗi học viên từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng tùy theo thời điểm khám. Trong quá trình dẫn học viên đi khám sức khỏe, X quen biết với Trần Thanh P1. Sau đó, P1 trao đổi với X về việc khám sức khỏe không cần có người trực tiếp đến khám, chỉ đưa giấy khám sức khỏe có dán ảnh và ghi thông tin cá nhân đưa P1. Sau đó, P1 mang giấy khám sức khỏe đến gặp các bác sỹ nhờ ghi thông tin khám và ký xác nhận khống nội dung khám và kết luận. Khi nào làm xong, P1 liên lạc với X để giao giấy khám sức khỏe, mỗi giấy P1 thu 70.000 đồng. X thu mỗi học viên 160.000 đồng, X hưởng lợi 90.000 đồng.
Ngoài ra, X còn tự khai nhận với cách thức như trên, X đưa cho P1 làm khống giấy khám sức khỏe mà không có học viên trực tiếp đến khám khoảng 95 giấy, X không nhớ rõ họ tên cụ thể từng người, số tiền thu lợi 8.550.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 626/KL-KSHS của Phòng K Công an tỉnh K kết luận có chữ viết của bị can trên 02 giấy khám sức khỏe và hồ sơ thu được tại Trung tâm dạy nghề Thanh Niên và Sở Giao thông vận tải tỉnh K. Xác định X nhận làm khống 05 giấy, mỗi giấy hưởng lợi 90.000 đồng.
Như vậy, Lê Hoàng X nhận làm khống giấy khám sức khỏe cho học viên không trực tiếp đến khám là 05 giấy, thu lợi 90.000 đồng/giấy. Số tiền thu lợi bất chính là 450.000 đồng. Ngoài lời tự khai nhận của X làm thêm 95 giấy thì không có cơ sở chứng minh hành vi phạm tội, nên không có đủ chứng cứ truy tố X phạm tội theo khoản 4 Điều 359 Bộ luật Hình sự.
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở trên đối với các bị can.
* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như truy tố các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính; Trần Thanh P1 và Danh Chánh T1 “Có thành tích xuất sắc năm 2019 được UBND tỉnh K tặng Bằng khen”; Trần Thanh P1, Danh Chánh T1, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G và Lê Hoàng X có người thân có công với cách mạng.
* Tài liệu, đồ vật thu giữ tại thời điểm bắt, khém xét:
- Ngày 10/02/2022, Sở Giao thông vận tải tỉnh K đã cung cấp 1158 giấy khám sức khỏe của người lái xe hạng A1 dự thi từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021 để phục vụ giám định; ngày 01/06/2023 Sở G tiếp tục cung cấp 17 giấy khám sức khỏe của người lái xe hạng A1.
- Lúc bắt Trần Thanh P1 đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8 số IMEI (1) 359051097723795; số IMEI (2) 359052097723793, màu vàng đồng, đã qua sử dụng.
- Khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Huyền N đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S21 Ultra 5G, số kiểu máy SM-G998R/DS, số Seri: R5CRB120K8P, màu đồng, đã qua sử dụng; 01 CPU nhãn hiệu LG không có số hiệu; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG 19M35A-B màu đen; 02 máy in phun màu nhãn hiệu EPSON L805, Model: B412C, màu đen, đã qua sử dụng, 01 thùng tài liệu được niêm phong.
- Lúc bắt Nguyễn Chí L1 đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, số Seri TSZPNPR47STKAAQK, số IMEI 1: 862052050078417, số IMEI 2: 862052050078409, bên trong có 2 sim số: 0823272266 và 0375497655, màu đen đã qua sử dụng.
- Khám xét nơi ở của Lê Thị Hồng G thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, Made in China, Model 23021RAAEG màu xanh, đã qua sử dụng.
* Bản kết luận giám định số 186/KL-KTHS ngày 06/5/2022 và Công văn số 141/PC09 về việc trả lời thông tin có liên quan đến kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh K, có kết luận nội như sau:
- 34 (ba mươi bốn) giấy khám sức khỏe của người lái xe, ký hiệu từ A1-A34 là giả.
- Chữ ký mang tên Lâm Thị Minh P2 tại mục: “II. KHÁM LÂM SÀNG” trên 586 mẫu cần giám định (các giấy khám sức khỏe) so với chữ ký mang tên Lâm Thị Minh P2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M12 đến M16 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Danh Chánh T1 tại mục: “II. KHÁM LÂM SÀNG” trên 412 mẫu cần giám định (cụ thể các giấy khám sức khỏe) so với chữ ký mang tên Danh Chánh T1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M6 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Danh Chánh T1 tại mục: “IV. KẾT LUẬN” trên 346 mẫu cần giám định (các giấy khám sức khỏe) so với chữ ký mang tên Danh Chánh T1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M6 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Huỳnh L2 tại mục: “II. KHÁM LÂM SÀNG” trên 657 mẫu cần giám định (cụ thể các giấy khám sức khỏe) so với chữ ký mang tên Huỳnh L2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M7 đến M11 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Huỳnh L2 tại mục: “IV. KẾT LUẬN” trên 537 mẫu cần giám định (cụ thể các giấy khám sức khỏe) so với chữ ký mang tên Huỳnh L2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M7 đến M11 do cùng một người ký ra.
* Bản kết luận giám định số: 739/KL-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- Chữ viết tại mục “II. KHÁM LÂM SÀNG” trên 391 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) của Nguyễn Thị Huyền N trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng một người ký ra.
- Chữ viết tại mục “II. KHÁM LÂM SÀNG” và tại mục “IV. KẾT LUẬN” trên 01 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) của Trần Thanh P1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M06 đến M10 do cùng một người ký ra.
* Bản kết luận giám định số: 626/KL-KSHS ngày 14/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- Chữ viết tại M: “II. KHÁM LÂM SÀNG” và M1: “IV. KẾT LUẬN” trên 330 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) so với chữ viết của Nguyễn Chí L1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người viết ra.
- Chữ viết tại Mục: “II. KHÁM LÂM SÀNG” và M1: “IV. KẾT LUẬN” trên 02 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) so với chữ viết của Lê Hoàng X trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M7 đến M12 do cùng một người viết ra.
* Bản kết luận giám định số: 627/KL-KTHS ngày 04/7/2023, của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- Chữ viết tại mục: “Họ và tên:”, “Tuổi (Năm sinh):”, “Số CMND hoặc hộ chiếu:”, “Cấp ngày:”, “Tại:”, “Chỗ ở hiện tại:”, “Đề nghị khám sức khỏe để lái xe hạng:”, tại Mục: “II. KHÁM LÂM SÀN” và tại Mục: “IV. KẾT LUẬN” trên 01 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) so với chữ viết mang tên Lê Thị Hồng G trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M7 do cùng một người viết ra.
- Chữ viết tại mục: “Họ và tên:”, “Tuổi (Năm sinh):”, “Số CMND hoặc hộ chiếu:”, “Cấp ngày:”, “Tại:”, “Chỗ ở hiện tại:”, “Đề nghị khám sức khỏe để lái xe hạng:” trên 01 mẫu cần giám định (giấy khám sức khỏe) so với chữ viết mang tên Lê Thị Hồng G trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M7 do cùng một người viết ra;
- Chữ ký mang tên Danh Chánh T1 tại Mục: “II. KHÁM LÂM SÀN (SÀNG)" và dưới mục: “NGƯỜI ĐỀ NGHỊ KHÁM SỨC KHỎE”, “NGƯỜI KẾT LUẬN" trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 (04 giấy) so với chữ ký mang tên Danh Chánh T1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M8 đến M13 và từ M24 đến M29 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Huỳnh L2 tại Mục: “I(II). KHÁM LÂM SÀN (SẢNG)" trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A5 đến A17 (13 giấy) so với chữ ký mang tên Huỳnh L2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M14 đến M18 và từ M24 đến M26 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Huỳnh L2, dưới mục: “NGƯỜI ĐỀ NGHỊ KHÁM SỨC KHỎE", "NGƯỜI KẾT LUẬN" trên các mẫu cần giảm định ký hiệu từ AS đến A17 (13 giấy) so với chữ ký mang tên Huỳnh L2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M14 đến M18 và từ M24 đến M26 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Lâm Thị Minh P2 tại Mục: “II. KHÁM LÂM SÀN (SÀNG)” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A12 (12 giấy) so với chữ kỷ mang tên Lâm Thị Minh P2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M19 đến M23 và từ M27 đến M29 do cùng một người ký ra.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho các bị can, tài sản, gồm: Ngày 01/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiến hành trả lại tài sản cho các bị can, gồm: Lê Thị Hồng G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, Made in China, Model 23021RAAEG, màu xanh đã qua sử dụng (BL số: 1210); Trần Thanh P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8 số IMEI (1) 359051097723795; số IMEI (2) 359052097723793, màu vàng đồng, đã qua sử dụng (BL số: 1211); Nguyễn Thị Huyền N: 01 thùng tài liệu thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của N (BL số: 1212); Nguyễn Chí L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, số Seri TSZPNPR47STKAAQK, số IMEI 1: 862052050078417, số IMEI 2: 862052050078409, bên trong có 2 sim số: 0823272266 và 0375497655, màu đen đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S21 Ultra 5G, số kiểu máy SM-G998R/DS, số Seri: R5CRB120K8P, màu đồng, đã qua sử dụng; 01 CPU nhãn hiệu LG không có số hiệu; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG 19M35A-B màu đen; 02 máy in phun màu nhãn hiệu EPSON L805, model: B412C là phương tiện của N dùng để thực hiện hành vi phạm tội (theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 93 ngày 01/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K).
* Trách nhiệm dân sự: Buộc các bị can phải nộp khoản thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có:
- Trần Thanh P1 số tiền 22.820.000 đồng; được khấu trừ số tiền 23.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000629 ngày 02/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang;
- Huỳnh Long số tiền 18.930.000 đồng; được khấu trừ số tiền 19.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000602 ngày 11/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Danh Chánh Tuy số tiền 6.070.000 đồng; được khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000636 ngày 07/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Lâm Thị Minh P2 số tiền 23.090.000 đồng;
- Nguyễn Thị Huyền N số tiền 5.865.000 đồng, được khấu trừ số tiền 6.065.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000634 ngày 03/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Nguyễn Chí L1 số tiền 9.900.000 đồng; được khấu trừ số tiền 12.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000622 ngày 30/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Lê Thị Hồng G số tiền 540.000 đồng; được khấu trừ số tiền 740.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0009978 ngày 28/9/2023 và số tiền 3.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000630 ngày 03/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Lê Hoàng X số tiền 450.000 đồng; được khấu trừ số tiền 9.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0000643 ngày 10/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
* Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thanh P1, Lâm Thị Minh P2, Huỳnh L2, Danh Chánh T1, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G đều phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a khoản 4 Điều 359 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Hoàng X phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s và v khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1/- Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P1 – 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2/- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh L2 – 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3/- Xử phạt: Bị cáo Lâm Thị Minh P2 – 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
4/- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền N – 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s và v khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
5/- Xử phạt: Bị cáo Danh Chánh T1 – 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s, r và x khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
6/- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
7/- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hồng G 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 359, điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
8/- Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng X – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Thanh P1, Lâm Thị Minh P2, Huỳnh L2, Danh Chánh T1, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G xin giảm hình phạt; bị cáo Lê Hoàng X xin hưởng án treo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Ngày 10/5/2024, bị cáo Lâm Thị Minh Phụng, ngày 11/6/2024 bị cáo Danh Chánh T1 có đơn rút kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (đơn gửi qua đường bưu điện, có xác nhận của Giám thị Trại tạm giam - Công an tỉnh K).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
*Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, Hội đồng xét xử, các bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình sự.
*Về nội dung kháng cáo:
Các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện bản án sơ thẩm là đúng người và đúng tội danh đối với các bị cáo.
Các bị cáo vì tham lợi ích cá nhân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, số lượng giấy tờ làm giả rất lớn do đó cần phải được xem xét xử lý nghiêm minh.
Tại cấp phúc thẩm các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới, riêng bị cáo Lê Hoàng X xin được hưởng án treo và xuất trình thêm tình tiết có thành tích xuất sắc trong công tác, là bộ đội phục viên, tuy nhiên xét thấy mức án của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo.
Về kháng nghị đối với bị cáo G:
Án sơ thẩm xác định bị cáo có vai trò không đáng kể và áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù là không tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo và không công bằng với các bị cáo khác, trong vụ án này bị cáo chủ động tham gia tích cực và làm giả với số lượng lớn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị và tăng hình phạt đối với bị cáo G sửa một phần án sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo P1 trình bày:
Án sơ thẩm là đúng người, đúng tôi danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị cáo có công với nước, bị cáo thành khẩn khai báo, hợp tác với cơ quan điều tra, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Huyền N trình bày:
Bị cáo già yếu phạm tội có tính chất giản đơn, thu lợi nhỏ, đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo G trình bày:
Bị cáo không chủ động cấu kết với các bị cáo khác để phạm tội, chỉ muốn tạo điều kiện giúp các học viên không trực tếp đến khám sức khỏe, bị cáo đã chia tay với chồng và đang nuôi con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh L2 trình bày:
Khi tham gia phạm tội, bị cáo L2 không vụ lợi chỉ muốn tạo điều kiện cho các bị cáo khác, bị cáo phạm tội do thiếu suy nghĩ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo sớm trở lại xã hội cống hiến, chuộc lại lỗi lầm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo X trình bày:
Gia đình bị cáo có công với nước, bị cáo có thành tích suất sắc trong công tác, lớn tuổi và rất ăn năn hối cải, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện trực tiếp cải tạo.
Các bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của các luật sư. Riêng bị cáo Huỳnh L2 cho rằng không thu lợi bất chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang được làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, ngày 10/5/2024, bị cáo Lâm Thị Minh P2 và ngày 11/6/2024 bị cáo Danh Chánh T1 có đơn rút kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (đơn gửi qua đường bưu điện, có xác nhận của Giám thị Trại tạm giam - Công an tỉnh K). Căn cứ Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lâm Thị Minh P2 và bị cáo Danh Chánh T1. Do đó phạm vi xét xử phúc thẩm sẽ giải quyết kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh P1, Huỳnh L2, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G và bị cáo Lê Hoàng X.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, Trần Thanh P1, Huỳnh L2, Danh Chánh T1 và Lâm Thị Minh P2 là nhân viên bảo vệ và bác sĩ thuộc Trung tâm Y tế huyện G, tỉnh Kiên Giang đã lợi dụng nhiệm vụ được giao và vì mục đích vụ lợi, P1 trao đổi, thỏa thuận với bác sĩ và cộng tác viên nhận làm giả giấy khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám để bổ sung hồ sơ thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1. Trần Thanh P1 đã nhờ Huỳnh L2, Lâm Thị Minh P2 và Danh Chánh T1 ký xác nhận vào các mục khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám cho Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G, Lê Hoàng X để bổ sung hồ sơ dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1. Huỳnh L2, Lâm Thị Minh P2 và Danh Chánh T1 thực hiện việc ký xác nhận vào giấy khám sức khỏe không đúng chức năng nhiệm vụ đã được phân công. Đồng thời, P1 đã lợi dụng việc được giao giữ chìa khóa tủ con dấu để lấy con dấu tròn Trung tâm Y tế huyện G sử dụng đóng dấu vào các giấy khám sức khỏe.
Ngoài hành vi giúp sức cho Trần Thanh P1 ký khống vào giấy khám sức khỏe trên, Lâm Thị Minh P2 trao đổi, thảo thuận với Nguyễn Thị Huyền N nhận làm khống giấy khám sức khỏe cho cá nhân dự thi sát hạch giấy phép lái xe hạng A1 do N mang đến 391 giấy. Các giấy khám sức khỏe trên, P2 ký vào phần lâm sàng, giả chữ ký của Danh Chánh T1 ký 191 giấy ở phần kết luận và yêu cầu Danh Chánh T1 ký khống vào phần kết luận 200 giấy, rồi giao Trần Thanh P1 đóng dấu tròn của Trung tâm y tế huyện G.
Kết quả giám định kết luận là L2 ký khống 671 giấy, mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo L2 không thừa nhận có thu lợi bất chính, tuy nhiên căn cứ các tài liệu chứng cứ, lời khai thừa nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra thể hiện bị cáo L2 đã thu lợi bất chính 18.930.000 đồng; Tuy ký khống 400 giấy, thu lợi bất chính 6.070.000 đồng; P2 ký khống 597 giấy, thu lợi bất chính 23.090.000 đồng và P1 đóng dấu khống 1141 giấy, thu lợi bất chính 22.820.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G, Lê Hoàng X là công tác viên nhận thức được việc khám sức khỏe mà không có người trực tiếp đến khám là không đúng theo quy định. Vì mục đích muốn thu hút học viên tham gia học ngày càng nhiều để được hưởng lợi trong quá trình dạy lý thuyết có nhận làm hồ sơ khám sức khỏe mà không cần phải trực tiếp đến khám. N, L1, G và X đã cấu kết với Trần Thanh P1, Lâm Thị Minh P2 trong việc làm khống, cấp các giấy khám sức khỏe cho học viên dự thi giấy phép lái xe hạng A1 mà không có người trực tiếp đến khám.
Kết quả giám định kết luận là N làm 391 giấy, thu lợi bất chính 5.865.000 đồng; L1 làm 330 giấy, thu lợi bất chính 9.900.000 đồng; Gấm làm 18 giấy, thu lợi bất chính 540.000 đồng và X làm 05 giấy, thu lợi bất chính 450.000 đồng.
Do đó, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi của các bị cáo Trần Thanh P1, Lâm Thị Minh P2, Huỳnh L2, Danh Chánh T1, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G đều phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a khoản 4 Điều 359 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Hoàng X phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo:
Nhận thấy, các bị cáo trong vụ án đều là người có đầy đủ năng lực và có học vấn nhất định, nhận thức được sự hoạt động đúng đắn của các Cơ quan hành chính Nhà nước là bất khả xâm phạm, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự hoạt động của Cơ quan hành chính Nhà nước, cụ thể là Trung tâm Y tế huyện G, tỉnh Kiên Giang một cách trái pháp luật. Các bị cáo lợi dụng sự thiếu giám sát của đơn vị về quản lý con dấu để thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể, bị cáo P1 đã chủ động câu kết với các bác sĩ có chức vụ, có thẩm quyền trong Trung tâm cùng với các cộng tác viên bên ngoài thuộc các trung tâm dạy nghề trong tỉnh (theo hợp đồng cộng tác viên) thực hiện không đúng, làm trái quy định Bộ G1 và Bộ Y...về thủ tục khám sức khoẻ, bằng cách ký khống nhiều giấy khám sức khoẻ, mà không có người trực tiếp đến Trung tâm khám (để cho các học viên dự thi sát hạch lái xe mô tô hại A1) trong khoảng thời gian dài từ năm 2019 đến 2021, với tổng cộng hơn 1.141 giấy khám sức khoẻ nhằm thu lợi bất chính.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Thanh P1 là người giữ vai trò chính, rủ rê lôi kéo nhiều người cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo lợi dụng sự phân công Ban Giám đốc trung tâm Y tế huyện G, giao cho tổ trực bảo vệ đơn vị quản lý con dấu của cơ quan, ngoài giờ hành chính khi có chuyển bệnh hoặc chuển tuyến, không có sự giám sát của người có thẩm quyền của đơn đơn vị...để thực hiện hành vi phạm tội trong khoảng thời gian dài với tổng cộng bị cáo làm giả hơn 1.141 giấy khám sức khoẻ, thu lợi bất chính số tiền 22.820.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mức án nghiêm, đồng thời cần phải xử phạt bị cáo mức án cao hơn tất cả các bị cáo trong cùng vụ án là cần thiết.
Giữ vai trò kế tiếp trong vụ án này là các bị cáo Huỳnh L2, Danh Chánh T2, Lâm Thị Minh P2... Các bị cáo nói trên là những bác sĩ, được đào tạo trong khoảng thời gian nhất định, các bị cáo phải nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đên hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước đặc biệt là ngành y tế, gây bất bình trong nhân dân, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội ... Trong vụ án này, số lượng giấy khám sức khoẻ mà các bị cáo trực tiếp ký khống với số lượng rất lớn. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo là từ rất nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng, nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với các bị cáo Huyền N, Chí L1, Hồ N, Hoàng X là các cộng tác viên tại các Trung tâm dạy nghề có đào đạo sát hạch lái xe hạng A1, biết rõ quy định về sát hạch như thế nào mới đủ điều kiện dự thi, trong đó tiêu chí sức khoẻ là hàng đầu. Tuy nhiên, cũng vì hám lợi trước mắt mà các bị cáo bất chấp, cùng nhau thực hiện phạm tội và có vai trò đồng phạm trong vụ án. Xét về vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo N là người giữ vai trò cao nhất, số lượng giấy bị cáo vi phạm là 391 giấy, bị cáo L1 330 giấy, bị cáo G là 18 giấy, bị cáo X 05 giấy... Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội đã gây nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời phải xử lí bị cáo N mức án cao hơn bị cáo L1, bị cáo L1 mức án cao hơn bị cáo G, bị cáo G cao hơn bị cáo X là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội từng bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS làm tình tiết tăng nặng cho các bị cáo đối với các bị cáo.
* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà tất cả các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính, hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, gia đình có công Cách mạng (bị cáo L2, bị cáo G, bị cáo L1, T1...), bản thân các bị cáo đều có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự... Do vậy, áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ chung cho các bị cáo.
- Đối với bị cáo Trần Thanh P1 trong quá trình công tác đã lập thành tích xuất sắc, năm 2019 được Chủ tịch UBND tỉnh K tặng “Bằng khen”; Gia đình có công với cách mạng, nên áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm cho thêm cho bị cáo.
Đối với các bị cáo Nguyễn Chí L1, trong quá trình điều tra đã tự thú khai ra những lần trước đó mà Cơ quan điều tra chưa phát hiện, có cha là liệt sĩ...nên áp dụng thêm điểm r và x khoản 1 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ thêm cho bị cáo và xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Lê Hoàng X, có vai trò đồng phạm giúp sức, số lượng giấy rất ít hơn nhiều so với tất cả các đồng phạm (05 giấy), số tiền thu lợi không lớn, tự khai ra các lần phạm tội trước đó, hiện nay bị cáo cũng lớn tuổi (trên 60 tuổi)... do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm r, khoản 1 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho thêm cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án đầu khung 1 cũng răn đe đối với bị cáo.
Xét cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo nêu trên và đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, một số bị cáo xuất trình thêm tình tiết gia đình có công với nước, có thành tích xuấ sắc trong lao động tuy nhiên những tình tiết này đã được xem xét tại cấp sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo nêu trên.
Đối với bị cáo Lê Thị Hồng G, trong quá trình điều tra đã tự thú khai ra những lần trước đó mà Cơ quan điều tra chưa phát hiện vợ chồng đã ly hôn, hiện còn phải nuôi 02 con nhỏ...Do vậy cấp sơ thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 là phù hợp, trong vụ án này bị cáo đóng vai trò giúp sức, cấu kết với bị cáo P1 thực hiên hành vi phạm tội nhiều lần ( 18 lần), cấp sơ thẩm nhận định bị cáo G có vai trò không đáng kể và áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ là tương đối phù hợp, tuy nhiên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án ở đầu khung 2 với mức án là 03 năm tù là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang về tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Hồng G và không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Hồng G.
[5] Do không được chấp nhận kháng cáo, các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định. Riêng bị cáo Lê Hoàng X được miễn án phí hình sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 342, Khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đình chỉ giải quyết kháng cáo đối với bị cáo Danh Chánh T1 và bị cáo Lâm Thị Minh P2.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chấp kháng nghị số 01/QĐ-VKS.P1 ngày 03/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
* Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thanh P1, Lâm Thị Minh P2, Huỳnh L2, Danh Chánh T1, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G đều phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a khoản 4 Điều 359 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Hoàng X phạm tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s và v khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1/- Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P1 – 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2/- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh L2 – 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3/- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền N – 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s, r và x khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
4/- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí L1 – 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 359, điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
5/- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hồng G – 05 ( Năm ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 09/03/2023)
- Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 359, điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
6/- Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng X – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành án.
Các bị cáo Trần Thanh P1, Huỳnh L2, Nguyễn Thị Huyền N, Nguyễn Chí L1, Lê Thị Hồng G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lê Hoàng X.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 727/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự
- Số bản án: 727/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm
