|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 727/2023/DS-PT Ngày 18 – 10 – 2023 V/v “Tranh chấp đòi lại QSDĐ cho ở nhờ; Hủy GCN.QSDĐ; Yêu cầu công nhận QSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Văn Tửu |
|
Các Thẩm phán: |
Bà Phạm Thị Duyên Ông Mai Xuân Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2023/TLPT-DS, ngày 5 tháng 7 năm 2023, về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho ở nhờ; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2023/DS-ST, ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2066/2023/QĐ-PT, ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H; Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H:
- Ông Cô Văn H1; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ hiện nay: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/6/2021 – có mặt);
- Ông Trần Việt H2, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/9/2023 - có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Cô Văn H3; Địa chỉ: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Ông Cô Văn L; Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh S; Địa chỉ: Số A đường H, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S (Theo giấy ủy quyền số 11/UQ-STNMT ngày 11/4/2023 – vắng mặt).
- Bà Hồ Thị N (vắng mặt).
- Em Cô Văn T, sinh năm 2000 (vắng mặt).
- Em Cô Văn Q, sinh năm 2004, người giám hộ cho Cô Văn Q1: Bà Hồ Thị N và ông Cô Văn H3.
- Bà Thạch Thị V, tên gọi khác: Quêl, (vắng mặt).
- Anh Cô Văn T1 (vắng mặt).
- Chị Cô Thị L1 (vắng mặt).
- Ông Cô Văn M (vắng mặt).
- Bà Trương Thị Mười H4 (vắng mặt).
- Ông Cô Văn C (vắng mặt).
- Bà Cô T (vắng mặt).
- Bà Cô T (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Liên Văn M1 (vắng mặt).
- Ông Liên Văn T2 (Liên Tăng) (vắng mặt).
- Bà Liên Thị Đ1 (vắng mặt).
- Bà Liên Thị Mỹ N1 (vắng mặt).
- Ông Liên Văn T3 (vắng mặt).
- Bà Liên Thị V1 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Liên Thị Ánh . Địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ông Liên Văn L2. Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2018 của bà Nguyễn Thị H và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:
Vào khoảng năm 2002 vợ chồng bà Nguyễn Thị H có cho ông Cô Văn H3 và ông C1 Văn L vào ở nhờ trên mảnh đất của vợ chồng bà, mỗi người cất một căn nhà, nhà của ông H3 có chiều ngang khoảng 04m, chiều dài khoảng 11m và nhà của ông L có chiều ngang khoảng 4m, chiều dài khoảng 11m, các căn nhà nằm trên thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, là một phần trong diện tích 3.980,7m², tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, phần đất này bà H được Sở T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho bà Nguyễn Thị H vào ngày 26/01/2018. Vào ngày 30/11/2017, ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L tự nhiên gây chuyện và nói đất này là đất của ông, bà để lại nên gia đình bà không có quyền sơ hữu đất. Sau đó, con của bà là ông Cô Văn H1 mới trồng cây chuối lên mãnh đất này thì ông Lương n bỏ nên hai bên xảy ra cự cải. Sau đó, gia đình bà đã đòi lại phần đất này, không cho ông H3 và ông L ở nhờ nữa nên gia đình ông H3, ông Lương hâm dọa chém giết và gây rối bằng nhiều hình thức. Do đó, gia đình bà có yêu cầu chính quyền giải quyết nhưng không thành.
Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L di dời căn nhà, công trình xây dựng, cây cối để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị H, phần đất thuộc thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, là một phần trong tổng diện tích đất 3.980,7m², tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
* Theo các đơn yêu cầu phản tố đề ngày 09/5/2018, ngày 17/6/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L trình bày:
Phần đất tranh chấp là của ông Cô Văn T4 (ông nội của ông Cô Văn H3, ông Cô Văn L) sử dụng từ trước, sau khi ông C1 Văn Thuận chết (chết vào khoảng năm 1978) thì vào năm 2000 hai người bác của ông H3, ông L là ông Cô Văn N2 và ông Cô Văn H5 đã đồng tình để lại cho cha của hai ông là ông Cô Văn T5 cất nhà ở và sử dụng. Đến năm 2002 thì ông Cô Văn T5 cho mỗi người con một phần đất để cất nhà ở và sinh sống cho đến nay gồm: Cô Văn C, Cô Văn K, Cô V, Cô V, Cô Văn H3. Đến ngày 08/11/2017 chị dâu của hai ông là bà Nguyễn Thị H (vợ của ông C1 Văn K) đã gửi đơn đến Ban N3 yêu cầu hai ông di dời nhà trả lại đất.
Ông H3, ông L không đồng ý đối với yêu cầu của bà H vì phần đất này có nguồn gốc là của ông, bà, cha, mẹ của các ông sử dụng từ trước năm 1975, nay ông, bà, cha, mẹ đã chết, không để lại di chúc thì các anh em trong gia đình cùng được hưởng thừa kế phần đất, nhưng vợ chồng ông C1 Văn K và bà Nguyễn Thị H đã tự ý đăng ký quyền sử dụng đất từ năm 2006. Sau đó, bà H tiếp tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên bà H để chiếm đất và yêu cầu hai ông di dời nhà ở.
Nay ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02249/CI490479 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Nguyễn Thị H vào ngày 26/01/2018 với
diện tích đất 3.980,7m², tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Được cấp đổi từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 31/7/2006 cho ông C1 Văn K và bà Nguyễn Thị H với diện tích đất là 4.026m2, tại thửa số 2000, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện L (nay là ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng)).
Yêu cầu công nhận cho ông Cô Văn H3 phần đất tại thửa số 251 tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, có diện tích 133,96 m² bao gồm lối đi ra lộ (57,1m²).
Yêu cầu công nhận cho ông C1 Văn Lương phần đất tại thửa số 251 tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, có diện tích khoảng là 83,044m² bao gồm lối đi (sân trước nhà) ra lộ (28,9m²).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Các ông bà Hồ Thị N; Bà Thạch Thị V (Quêl); Ông Cô Văn M; Cô Văn T; Cô Văn Q2 và Cô Thị L1 có cùng ý kiến với lời trình bày của ông Cô Văn H3.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Mười H4 không có ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S: có văn bản nêu ý kiến về việc bị đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02249/CI490479 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Nguyễn Thị H vào ngày 26/01/2018 với diện tích đất 3.980,7m² tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Ngày 31/7/2006 ông Cô Văn K (đã chết năm 2015) và bà Nguyễn Thị H được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 834765 đối với phần đất diện tích 4.026m² đất trồng cây lâu năm, thửa số 2000, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện L (nay là thửa số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ thị trấn T, huyện T). Năm 2018 bà Nguyễn Thị Hồng 1 thủ tục đăng ký biến động đất đai giảm diện tích (do mở lộ đất), nhận thừa kế và được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02249/CI490479 ngày 26/01/2018 đối với phần đất nêu trên (diện tích sau khi biến động là 3.980,7m²). Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị H của Sở T được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định. Do vậy, người đại diện theo ủy quyền của Sở T cho rằng yêu cầu của bị đơn là không có cơ sở.
* Tại biên bản lấy khai ngày 09/02/2023 (BL số 1000), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Liên Văn L2 trình bày: Ông thống nhất về nguồn gốc phần đất tranh chấp như ông H3 và ông L trình bày, theo yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý. Nếu phần đất này là di sản thừa kế của ông bà để lại có phần của mẹ ông là bà Cô Thị Đ2 được hưởng thì ông đồng ý nhận.
* Tại biên bản lấy khai cùng ngày 22/3/2023 (BL số 1001 đến 1008), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Liên Văn T2 (Tăng), bà Liên Thị V1, ông
Liên Văn T3 và bà Liên Mỹ D (N1) đều trình bày: Các ông bà có nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án, về nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà H với ông H3 và ông L thì các ông bà không biết. Nếu phần đất này là di sản thừa kế của ông bà để lại có phần của mẹ các ông bà là bà Cô Thị Đình thì các ông bà không nhận và không giao cho ai do Tòa án quyết định.
* Tại biên bản lấy khai ngày 22/3/2023 (BL số 1009 đến 1010), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Liên Thị Á trình bày: Bà có nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án, về nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà H với ông H3 và ông L thì bà nghe mẹ bà nói lại phần đất tranh chấp trước đây là ông bà ngoại của mẹ bà cho mẹ bà nhưng mẹ bà không nhận, nên ông bà ngoại của mẹ bà cho lại ông K nhưng không biết cho đứt hay cho mượn. Nếu phần đất này là di sản thừa kế của ông bà để lại có phần của mẹ bà là bà Cô Thị Đ2 thì bà không nhận và không giao cho ai do Tòa án quyết định.
* Tại biên bản lấy khai ngày 22/3/2023 (BL số 1011 đến 1013), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Liên Thị Ngọc Đ3 trình bày: Bà có nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án, về nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà H với ông H3 và ông L thì bà nghe mẹ bà nói lại phần đất tranh chấp trước đây là ông bà ngoại của mẹ bà, ông K về sống với ông bà ngoại của mẹ bà, khi ông bà ngoại của mẹ bà chết thì ông K và bà H sử dụng đất, còn việc ông bà ngoại của mẹ bà có cho ông K và bà H hay cho mượn thì bà không biết. Nếu phần đất này là di sản thừa kế của ông bà để lại có phần của mẹ bà là bà Cô Thị Đ2 thì bà không nhận và không giao cho ai do Tòa án quyết định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2023/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 229, 271, 273, khoản 1 Điều 147; khoản 1 và khoản 5 Điều 165; Điều 157 và Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Áp dụng Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2014; Căn cứ Điều 98, Điều 106 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L di dời nhà, công trình xây dựng, cây cối trên phần đất cho mượn ở nhờ, là một phần của thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, trong đó:
1.1. Nhà của ông Cô Văn L, diện tích 63,45 m²:
- - Hướng Đông Bắc giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 13,5 mét.
- - Hướng Tây Nam giáp nhà của ông C1 Văn M có số đo 13,5 mét.
- - Hướng Đông Nam giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 4,7 mét.
- - Hướng Tây Bắc giáp ao nước thuộc thửa 251 có số đo 4,7 mét.
1.2. Nhà của ông Cô Văn H3, diện tích 76,86 m²:
1.2.1. Nhà trước, diện tích 52,36 m²:
- - Hướng Đông Bắc giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 11,9 mét.
- - Hướng Tây Nam giáp nhà sau ông H3 thuộc thửa số 251 có số đo 11,9 mét.
- - Hướng Đông Nam giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 4,4 mét;
- - Hướng Tây Bắc giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 4,4 mét.
1.2.2. Nhà sau, diện tích 24,5 m² :
- - Hướng Đông Bắc giáp nhà trước ông H3 thuộc thửa số 251 có số đo 7 mét.
- - Hướng Tây Nam giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 7 mét.
- - Hướng Đông Nam giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 3,5 mét;
- - Hướng Tây Bắc giáp phần còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 3,5 mét.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Cô Văn H3 và ông Cô Văn L.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS02249 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Nguyễn Thị H vào ngày 26/01/2018 với diện tích đất 3.980,7 m², tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Cô Văn H3 và Cô Văn L về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, đối với ông Cô Văn H3 là 133,96 m² bao gồm lối đi ra lộ (57,1 m²); ông Cô Văn L: 83,044m² bao gồm lối đi (sân phía trước nhà) ra lộ (28,9 m²), thuộc thửa số 251, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3.1. Lối đi của ông Cô Văn L, diện tích 28,9 m²:
- - Hướng Đông Bắc giáp phần đất trống thuộc thửa số 251 có số đo 7,69 mét;
- - Hướng Tây Nam giáp nhà của ông C1 Văn M có số đo 4,64 mét;
- - Hướng Đông Nam giáp đường đất có số đo 5,66 mét.
- - Hướng Tây Bắc giáp nhà trước của ông L thuộc thửa 251 có số đo 4,7 mét.
3.2. Lối đi của ông Cô Văn H3, diện tích 57,1 m²:
- - Hướng Đông Bắc giáp phần đất trống thuộc thửa số 251 có số đo 17,41 mét + 10,18 mét + 2 mét;
- - Hướng Tây Nam giáp nhà ông L và phần đất trống thuộc thửa số 251 hiện tại ông H3 làm lối đi ra lộ đất có số đo 7,69 mét +9,7 mét + 1,9 mét;
- - Hướng Đông Nam giáp đường đất có số đo 2 mét;
- - Hướng Tây Bắc giáp phần đất còn lại thuộc thửa số 251 có số đo 7,6 mét.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009371 ngày 07/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Bà H đã nộp đủ.
6. Quyết định khác của án sơ thẩm về về án phí, chi phí tố tụng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, co quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN–CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Mai Xuân Thành |
Phạm Thị Duyên |
Nguyễn Văn Tửu |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tửu |
Bản án số 727/2023/DS-PT ngày 18/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại qsdđ cho ở nhờ; hủy gcn.qsdđ; yêu cầu công nhận qsdđ
- Số bản án: 727/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại QSDĐ cho ở nhờ; Hủy GCN.QSDĐ; Yêu cầu công nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
