Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 726/2024/HS-PT

Ngày 26/8/2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương;
  • Ông Phan Nhựt Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 397/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Danh Huế Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Danh Huế Q, sinh năm: 1988, tại Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Khu phố C, Thị trấn thứ 11, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở: Ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Danh H và bà Nguyễn Thị H1; Vợ: Thiều Kim T; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 19/11/2010, bị Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 tháng 01 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, do chưa thi hành án xong án phí sơ thẩm (thuộc trường hợp tái phạm). Bị cáo bị bắt ngày 10/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh K. (Có mặt).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Trần Văn C - Đoàn Luật sư tỉnh K. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy

Vào khoảng lúc 16 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, lực lượng Công an huyện A tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 68T - 6032 do Lê Hoàng Ý điều khiển chở theo Âu Hữu D tại khu vực Cống chợ thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Qua kiểm tra trên người Âu Hữu D, lực lượng Công an phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy. D khai nhận là ma túy do D mua của Danh H2 Quảy vào ngày 08/6/2023 để sử dụng còn lại. Ngoài ra, lực lượng Công an còn phát hiện và thu giữ dưới đường lộ gần khu vực các đối tượng trên có 01 gói nylon trong suốt hàn kín có rãnh gài bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất nghi là ma tuý. Công an huyện A tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Danh Huế Q (ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang), thu giữ nhiều bịch ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy. Từ lời khai của Danh Huế Q, Lê Trần V và một số đối tượng nghiện, Cơ quan điều tra Công an tỉnh đã khởi tố, bắt tạm giam đối với Lê Trần V.

Căn cứ vào lời khai của Danh Huế Q, Lê Trần V, các đối tượng có liên quan, kết quả giám định và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của các bị can, như sau:

- Trong khoảng thời gian từ tháng 05/2023 đến ngày 10/6/2023, Danh Huế Q mua ma túy của người có tên T1 (không rõ họ tên thật và địa chỉ ở khu vực T, huyện A, tỉnh Kiên Giang) 10 lần, 10 bịch, giá 19.000.000 đồng. Ngoài ra vào ngày 09/6/2023, Danh H2 Quảy điện thoại trao đổi, thỏa thuận mua ma túy của người tên P (không rõ họ tên thật và địa chỉ cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh) 01 bịch ma túy với giá 46.000.000 đồng, P cho số tài khoản, rồi Q đến tiệm V1 đưa tiền nhờ chuyển vào tài khoản của P. Đến ngày 10/6/2023, P gửi ma túy cho Q qua nhà xe G, Q ra nhà xe đọc số điện thoại và nhận thùng CPU bên trong có chứa ma túy, Q đem về mở ra thấy có 01 bịch ma tủy, Q đem cất giấu trong cặp da để ở chòi lá. Nguồn ma túy trên, Q phân thành bịch nhỏ cất giấu nhằm mục đích vừa để sử dụng cá nhân vừa để bán lại cho người nghiện. Quảy thực hiện hành vi phạm tội như sau: Khi có người gọi điện thoại hỏi mua ma túy hoặc gặp trực tiếp thì sau khi trao đổi thống nhất về giá cả, số lượng ma túy và địa điểm mua bán, sau đó Danh H2 Q gặp trực tiếp lấy tiền và giao ma túy như đã thỏa thuận hoặc Q kêu Lê Trần V đi giao ma túy cho người nghiện, cụ thể như sau:

  • + Bán cho Âu Hữu D (Mỹ) 01 lần, 01 bịch, giá 6.000.000 đồng (vào ngày 10/6/2023), D còn thiếu lại 3.000.000 đồng;
  • + Bán cho Huỳnh Chí L 02 lần, 02 bịch, giá 2.000.000 đồng;
  • + Bán cho Lê Minh H3 03 lần, 03 bịch, giá 2.300.000 đồng;
  • + Bán cho Nguyễn Tấn T2 04 lần, 04 bịch, giá 2.500.000 đồng;
  • + Bán cho Võ Văn Đ 02 lần, 02 bịch, giá 9.000.000 đồng;
  • + Bán cho Dương Thanh A (Tuấn K) 04 lần, 04 bịch, giá 2.000.000 đồng. Trong đó, Q trực tiếp trao đổi thỏa thuận giá cả mua bán ma túy với Dương Thanh A, rồi kêu Lê Trần V sử dụng xe mô tô 68X1-194.88 (Chủ sở hữu là bà Lê Thị Kiều T3, chị ruột của V) chở Q đi giao ma túy cho A 03 lần, Q đưa ma túy cho V trực tiếp đem giao cho A 01 lần, tiền bán ma túy thì A trực tiếp trả cho Q. Trong 04 lần V đi bán ma túy cùng với Danh H2 Quảy thì V được Q cho ma túy 02 lần, mỗi lần 01 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá để V sử dụng.
  • + Bán cho Lê Trần V 02 lần, 02 bịch, giá 2.200.000 đồng (còn thiếu lại 700.000 đồng).

- Riêng đối với Lê Trần V: Thừa nhận biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có ma túy để sử dụng nên đã tham gia thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy tổng hợp cho Danh H2 Quảy như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy của Danh Huế Q thì Lê Trần V không biết ở đâu Quảy có được ma túy để bán cho Dương Thanh A.

Như vậy, Danh Huế Q đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 18 lần cho 07 người, 18 bịch Methamphetamine, thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có là 22.300.000 đồng. Lê Trần V đồng phạm giúp sức cho Danh H2 Quảy bán trái phép chất ma túy 04 lần, 04 bịch, hưởng lợi ma túy sử dụng.

2. Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Căn cứ lời khai của Danh Huế Q, Lê Trần V, Nguyễn Văn C1, Âu Hữu D, bộ D2 sử dụng ma túy bị thu giữ tại nhà của Danh Huế Q, kết quả xét nghiệm dương tính với loại ma túy Methamphetmine của Q, V, C1 và D đã có cơ sở xác định hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Danh Huế Q, như sau:

Vào ngày 08/6/2023, ngày 09/6/2023 và ngày 10/6/2023, Danh H2 Quảy cất căn chồi lá (ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang). Quảy có nhờ Lê Trần V (ngày 08, 09, 10/6/2023), Nguyễn Văn C1 (ngày 10/6/2023) đến tiếp giúp cất chồi lá và Âu Hữu D (ngày 10/6/2023). Quảy chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy (Quảy mua trên mạng xã hội), gồm: 01 bình thủy tinh, trên bình có gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thủy tinh, bên trong nỏ có ma túy đá để sẵn (bộ dụng cụ sử dụng ma túy này để dưới đất gần cửa ra vào cửa chồii lá). Trong thời gian nghỉ ngơi, Q có nói: “Đồ tao để trong chồi lá có chơi thì chơi”. Sau khi ăn cơm trưa xong, lần lượt Vẹn, C1 và Q tự lấy bình sử dụng ma túy rồi tự đốt sử dụng, sau khi sử dụng xong thì tiếp tục cất chồi lá; ngoài ra khi Âu Hữu D đến gặp Q thì thấy bộ dụng cụ ma túy của Q chuẩn bị sẵn trong chồi lá thì tự lấy sử dụng với hình thức nêu trên.

* Vật chứng thu giữ khi bắt và khám xét tại nhà của Danh Huế Q, gồm:

- Khám xét trên người Danh H2 Quảy thu giữ:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, đã qua sử dụng;
  • + Tiền Việt Nam 5.070.000₫ (năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Khám xét khu vực trong chòi lá nơi Danh Huế Q đang có mặt thu giữ, gồm:

  • + 01 (một) cải cặp da màu đen có in dòng chữ BALLY, có vai màu đen, bên trong có chứa các đồ vật gồm: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 cái bình bằng thủy tình có nắp màu hồng, có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa trong suốt; 01 (một) gói nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ bên trong có 01 cây muồng bằng nhựa màu trắng và 01 gói nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đó, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất nghi là ma tuý; 01 (một) chai ga màu đen có chữ BLUESTAR; 01 (một) cây cân điện tử màu bạc, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại; 04 (bốn) cái hột quẹt ga, đã qua sử dụng; 70 (bảy mươi) cái túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh; 66 (sáu mươi sáu) cái túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ; 01 (một) đoạn ống nhựa màu xám, đường kính 11cm, chiều dài 22cm; 01 (một) đoạn ống nhựa màu xám, đường kính 9cm, chiều dài 19,5cm; 01 (một) nắp nhựa màu xám, đường kính 12cm.

- Khám xét ở khu vực nhà phía bên phải (hông nhà bên phải có mái che theo hướng từ ngoài nhìn vào) thu giữ các đồ vật, gồm:

  • + 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh.
  • + 01 (một) cái bình bằng thủy tinh, trên bình có gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 cái nỏ thủy tinh; 02 (hai) ống thủy tỉnh.
  • + 01 (một) cái keo bằng thủy tinh có nắp màu hồng, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất nghi là ma tuý.

- Thu giữ trên bàn trong nắp hộp nhựa 35 (ba mươi lăm) viên đạn.

- 01 (một) đoạn ống nhựa màu xám đường kính 9,5cm, chiều dài 21,5cm có nắp đậy kín 02 đầu.

- Khám xét trong tủ trang điểm trong nhà, đối diện phòng ngủ thu giữ 01 (một) khẩu súng màu đen bằng kim loại, có lắp 01 viên đạn.

* Khám xét khu vực nhà phía trước thu giữ 01 (một) thùng xốp màu trắng, phía trên có đơn giao hàng, khách hàng người nhận tên Kim T4, bên trong có 06 lọ gốm màu vàng nhạt.

* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lê Hoàng Ý và Âu Hữu D, gồm:

  • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, bên trong chứa chất rắn, nghi là ma túy (trong người  Hữu Duy)
  • - 01 (một) xe Wave màu đỏ, biển kiểm soát 68T2-6032 bị hư hỏng nhiều bộ phận (của Lê Hoàng Ý);

* Vật chứng thu giữ gần chỗ bắt Lê Hoàng Ý và Âu Hữu D, gồm: 01 (một) gói nylon trong suốt hàn kín có rãnh gài bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, nghi là ma túy.

* Tại bản kết luận giám định số 579/KL-KTHS, ngày 16/6/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh K kết luận.

  • - Gói 1: Nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 19,9316 gam. (thu trên mặt đường lộ)
  • - Gói 2: Nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0478 gam. (thu trên người Âu Hữu D)
  • - Gói 3: Nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 160,3971 gam. (thu trong cặp da màu đen trong chòi lá của Danh Huế Q)
  • - Gói 4: Nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 cái keo thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1200 gam. (thu ở khu vực nhà phía bên phải)

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Tại Bản kết luận giám định vụ số: 889/KL - KTHS ngày 06/10/2023 của phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:

Trích xuất dữ liệu trong điện thoại di động gửi giám định ra 11.3GB (Mười một phẩy ba Gigabyte) dữ liệu và giao cho Cơ quan trưng cầu giám định.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản phụ lục

* Tại Bản kết luận giám định vụ số 4144/KL-KTHS, ngày 26/7/2023 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • - Khẩu súng gửi giám định là súng chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm, hiện tại bộ phận liên kết giữa bộ phận cò và bứa đập đã bị hỏng nên không thể bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là súng đồ chơi nguy hiểm, không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và không phải là vũ khí quân dụng. Khi sử dụng khẩu súng nêu trên tác động vào cơ thể người có thể gây thương tích.
  • - 35 (ba mươi lăm) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm. Khi sử dụng loại súng phù hợp để bắn với loại đạn này vào cơ thể người có thể gây thương vong.

* Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSKG-P1 ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh H2 Quảy về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; và bị cáo Lê Trần V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  • * Tuyên bố: Bị cáo Danh H2 Quảy phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 251, điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s và r khoản 1 Điều 51, điểm g và h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt: Bị cáo Danh Huế Q - 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và - 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là - 27 (Hai mươi bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 10/6/2023).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Lê Trần V, tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/4/2024 bị cáo Danh H2 Quảy có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, Hội đồng xét xử, bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình sự.

Về nội dung kháng cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tội danh, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thể hiện bản án của Tòa an nhân dân tỉnh K là đúng người và đúng tội danh, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đưa ra mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo.

- Bị cáo cùng người bào chữa trình bày:

Thống nhất với bản án sơ thẩm về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, có mẹ già, là lao động chính bị cáo là người dân tộc, nhận thức hạn chế để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Danh H2 Quảy làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa đủ cơ sở để kết luận:

Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày bị bắt quả tang (ngày 10/6/2023), Danh Huế Q thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy của người có tên T1 và P tổng cộng 11 lần, 11 bịch ma túy loại Methamphetamine với tổng số tiền 65.000.000 đồng. Danh Huế Q đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 18 lần cho 07 người, 18 bịch Methamphetamine, thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có là 22.300.000 đồng. Lê Trần V đồng phạm giúp sức cho Danh H2 Quảy thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 04 lần, 04 bịch, hưởng lợi ma túy sử dụng. Danh Huế Q phải chịu trách hình sự đối với tổng khối lượng ma túy đã bị thu giữ của Q và bán cho Âu Hữu D là 180, 4965 gam, loại Methamphetamine (160,5171 gam + 19,9316 gam + 0,0478 gam).

Ngoài ra trong thời gian từ ngày 08/6 đến ngày 10/6/2023, Danh H2 Quảy tổ chức sử dụng ma túy tại chòi lá của Q (ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang). Quảy chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy và ma túy loại Methamphetamine, gồm: 01 bình thủy tinh, trên bình có gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thủy tinh, bên trong nỏ có ma túy đá để sẵn; lần lượt Vẹn, C1 và Q tự lấy bình sử dụng ma túy rồi tự đốt sử dụng; ngoài ra khi Âu Hữu D đến gặp Q thì thấy bộ dụng cụ ma túy của Q chuẩn bị sẵn và D lấy sử dụng với hình thức nêu trên. Do vậy, có đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Bị cáo Danh Huế Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được rằng: Ma tuý là loại độc dược gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Như chúng ta đã biết, ma túy đã gây tác hại lớn đối với nền Kinh tế - xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức của con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia, đồng thời còn làm tăng thêm nhiều loại tội phạm và để lại hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ về sau. Tuy nhiên, chỉ vì hám lợi mong muốn có tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng nhằm thoả mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật cùng lao vào thực hiện hành vi phạm tội.

Xét trong vụ án này bị cáo Q là người giữ vai trò chính, nguồn ma tuý mà bị cáo có được để mua bán cho các con nghiện là do bị cáo mua của các đối tượng tên P và T1 (hiện chưa rõ nhân thân và địa chỉ) tổng cộng là 11 lần 11 bịch ma tuý loại Methamphetamin với số tiền là 65.000.000 đồng. Bản thân bị cáo Q trực tiếp bán cho các con nghiện là 18 lần cho 07 người 18 bịch Methamphetamin, ( bị cáo V giúp sức 04 lần) thu lợi bất chính số tiền 22.300.000₫ với tổng khối lượng là 180,4965gram ma tuý loại Methamphetamin. Ngoài thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, thì từ ngày 08/6/2023 đến ngày 10/6/2023, bị cáo Q còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều đối tượng Chỏm, bị cáo V, Âu Hữu D1 sử dụng...Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương, cùng lúc bị cáo phạm nhiều tội..., xét về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án chưa được xoá án tích, nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này là cần thiết.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • * Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Danh H2 Quảy phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm nên cần áp dụng điểm g và h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  • * Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện khai ra các lần phạm tội trước mà Cơ quan điều tra chưa phát hiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn...Do vậy, áp dụng các điểm r và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt tổng cộng 27 năm tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất của các tội danh mà bị cáo đã vi phạm do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Danh Huế Q, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Danh Huế Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 251, điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s và r khoản 1 Điều 51, điểm g và h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Danh Huế Q - 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và - 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là - 27 (Hai mươi bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 10/6/2023).

Bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA (HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Tuấn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 726/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 726/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger