Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 726/2024/DS-ST

Ngày 18-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Văn Ấn.

Bà Nguyễn Thị Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 780/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 688/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 571/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Trụ sở: đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Nguyễn Thanh T; địa chỉ: đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 17/10/2023 và ngày 25/7/2024) (có mặt).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc O (vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp A (ấp E cũ), xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2023 và lời khai của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Đoàn Nguyễn Thanh T thì:

Ngày 19/9/2018, bà Nguyễn Thị Ngọc O ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018). Căn cứ vào thu nhập của bà O, ngày 20/9/2018, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp cho bà O thẻ tín dụng Visa Cashback số 436438 - 5056 với hạn mức sử dụng là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng).

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà O đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 609.421.318đ (sáu trăm lẻ chín triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm mười tám đồng).

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà O đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền 576.300.000đ (năm trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng).

Do bà O vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà O không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà O và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 18/9/2024, bà O còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản sau: Nợ gốc là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 113.138.400đ (một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng), tổng cộng là 191.706.796đ (một trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng).

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà O phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 tính đến ngày 18/9/2024 là 191.706.796đ (một trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng), gồm nợ gốc là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 113.138.400đ (một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc O đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Theo kết quả xác minh ngày 03/6/2024 của Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 3719/TAHBC ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú thì bà Nguyễn Thị Ngọc O có đăng ký hộ khẩu thường trú và có thực tế cư trú tại ấp A (ấp E cũ), xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Đoàn Nguyễn Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Ông.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 196; khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Về án phí: Bà O phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc O trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018. Căn cứ kết quả xác minh ngày 03/6/2024 của Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà O có địa chỉ cư trú tại ấp A (ấp E cũ), xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Đoàn Nguyễn Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn – bà O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

[3.1.1] Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/9/2018, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc O và đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cơ sở xác định ngày 20/9/2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp thẻ tín dụng cho bà O với hạn mức sử dụng là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà O là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu lực.

[3.1.2] Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 18/9/2024 thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà O đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 18/9/2024 với tổng số tiền là 609.421.318đ (sáu trăm lẻ chín triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm mười tám đồng), phí trễ hạn là 1.751.097đ (một triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn không trăm chín mươi bảy đồng), lãi là 153.468.066đ (một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn không trăm sáu mươi sáu đồng), phí là 3.366.315đ (ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm mười lăm đồng). Bà O đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 576.300.000đ (năm trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi trừ các khoản phải thanh toán theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S lần lượt là: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt/ tương đương rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa/ thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt/ tương đương rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa/ thanh toán thẻ trực tuyến trong kỳ thì số tiền bà O còn nợ tính đến ngày 05/7/2021 là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng). Do bà O vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 05/7/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà O và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại khoản 27 Điều 1; Điều 26 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc bà O có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc còn lại là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng).

[3.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi: Căn cứ Bản mô tả nội dung thay đổi (ban hành theo Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T1 phát hành tại Việt Nam); khoản 27 ĐIều 1; Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 là 2.4%/ tháng - 2.48%/tháng. Mục 1.31 phần giải thích thuật ngữ và Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng, tương đương 3.6%/tháng - 3.72%/tháng (2.4%/tháng - 2.48%/tháng x 150%). Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) sang nợ quá hạn từ ngày 05/7/2021, áp dụng mức lãi suất 3.6%/tháng - 3.72%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tính đến ngày 18/9/2024 là 113.138.400đ (một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3.3] Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu bà O có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với bà O thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Đồng thời, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bà O đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu chung với ai khác nên không buộc ai phải có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của bà O.

[4] Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc bà O có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 tính đến ngày 18/9/2024 là 191.706.796đ (một trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng), gồm nợ gốc là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 113.138.400đ (một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng) và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên bà O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.585.340đ (chín triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi đồng); Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;
  • - Căn cứ vào Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc O có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/9/2018 tính đến ngày 18/9/2024 là 191.706.796đ (một trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng), trong đó, nợ gốc là 78.568.396đ (bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) và lãi quá hạn là 113.138.400đ (một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng).

Kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc O còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Ngọc O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.585.340đ (chín triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi đồng).

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.998.344đ (ba triệu chín trăm chín mươi tám nghìn ba trăm bốn mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0020903 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nguyễn Thanh Thùy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 726/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 726/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger