Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 726/2024/HS-ST

Ngày 12 - 12 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Công Thị Minh Lợi

Bà Bùi Thị Thu Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 567/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 674/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy L

sinh ngày 10/7/1983; giới tính: nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tập thể trường Cao đẳng K, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Duy T và bà Nguyễn Thị Kim Ơ; có vợ là: Đỗ Thị U (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 25/01/2010, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 BLHS năm 1999 (Bản án số 73/2010/HSST) (đã xóa án tích).
  • - Ngày 27/8/2010, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam giữ, quy định tại khoản 1 Điều 311 BLHS năm 1999. Tổng hợp với hình phạt 05 năm 06 tháng tù tại Bản án 73/2010/HSST buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm tù (đã xóa án tích).
  • - Ngày 08/11/2010, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 133 BLHS. Tổng hợp với hình phạt 07 năm tù tại Bản án 247/2010/HSST buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 14 năm 06 tháng tù (Bản án số 25/2010/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2020 (đã xóa án tích).

Bị cáo tạm giữ từ ngày 30/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Số giam: 6281C2/21.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1959 ; nơi cư trú : Thửa đất 36 (nay là nhà số A ngách B đường Ỷ), Tập thể trường Cao đẳng kiểm sát, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bào chữa:

Luật sư Đặng Văn S - Đoàn luật sư thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy L; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 ngày 29/12/2023, tại khu vực ngã ba đường P - D, phường M, quận N, Hà Nội, Tổ công tác Y9/141 - Công an T kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Duy L đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 28N1-268.15 chở theo Nguyễn Thị Kim N (sinh năm 2002, trú tại: T, B, C, Tiền Giang) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của L đang mặc: 01 túi nilong màu trắng kích thước (6x8) cm bên trong chứa 10 viên nén màu hồng, 02 túi nilong màu trắng kích thước (1x1) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng, 01 túi nilong màu trắng kích thước (6x8) cm bên trong chứa 01 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng, 01 viên nén màu trắng, 06 mảnh viên nén màu trắng, 02 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (2x3) cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, 02 túi nilong màu xanh kích thước (10x12)cm chứa các viên nén màu hồng, 01 túi nilong màu hồng kích thước (10x12)cm chứa các viên nén màu hồng. Thu giữ trong túi màu đen L đang đeo trên người: 01 tờ tiền nước ngoài, bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 cân điện tử màu trắng dính chất bột màu trắng và số tiền 33.900.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của L: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 28N1-268.15, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, bên trong có Sim số 0876586098, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, bên trong có Sim số 0968444102.

Kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K1 - C2 kết luận:

  • - 01 túi nilong bên trong có:
    • + 10 viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,921 gam.
    • + Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,201 gam.
  • - 01 túi nilong bên trong có:
    • + 01 viên nén màu trắng và 06 mảnh viên nén màu trắng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,632 gam.
    • + 01 viên nén màu hồng là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,503 gam.
    • + 01 viên nén màu vàng là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,409 gam.
    • + Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,921 gam.
  • - Chất bột màu trắng bên trong 01 tờ tiền nước ngoài là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,245 gam.
  • - Các viên nén màu hồng bên trong 02 túi nilong màu xanh và 01 túi nilong màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 60,498 gam.
  • - 01 cân điện tử màu trắng có dính ma túy loại Ketamine.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng tháng 6/2023, khi đi chơi tại huyện M, tỉnh Hòa Bình, Nguyễn Duy L gặp và quen một người nam giới tên “L” sử dụng tài khoản zalo “Linh HB” đăng ký số điện thoại 0362.795.xxx có nguồn ma túy “kẹo”, “ke”, “đá”, hồng phiến để bán. Nguyễn Duy L đã nhiều lần mua ma túy của đối tượng “Linh HB” về bán lại kiếm lời. Các lần mua ma túy, Nguyễn Duy L đều thanh toán bằng tiền mặt và giao nhận tại những vị trí khác nhau mà “Linh HB” gửi định vị. Giữa tháng 12/2023, Nguyễn Duy L gọi điện qua zalo cho “Linh HB” đặt mua 03 “đàn ngựa” (03 túi ma túy hồng phiến) với giá 12.000.000 đồng và yêu cầu “Linh HB” gửi mẫu ma túy “đá”, “kẹo”, “ke”, hồng phiến để L kiểm tra chất lượng. Khoảng 13 giờ ngày 29/12/2023, “Linh HB” gọi điện qua zalo cho Nguyễn Duy L, hẹn giao nhận ma túy lúc 14 giờ cùng ngày tại khu vực đối diện trụ cầu số 299 đường trên cao ở đường P. Nguyễn Duy L điều khiển xe máy BKS 28N1-268.15 đến điểm hẹn gặp, đưa số tiền 12.000.000 đồng cho “Linh HB”. “Linh HB” nhận tiền, chỉ cho Nguyễn Duy L vào chỗ giấu ma túy tại bụi cây gần đó rồi bỏ đi. Tại vị trí “Linh HB” chỉ, Nguyễn Duy L thấy 01 bọc nilong quấn băng dính màu đen. Nguyễn Duy L mang bọc ma túy ra bãi đất trống cạnh đó mở ra xem thì thấy bên trong có: 02 túi nilong màu xanh, 01 túi nilong màu hồng chứa các viên nén màu hồng; 01 túi nilong bên trong chứa ma túy. Sau đó, Nguyễn Duy L đã lấy ra ½ viên “kẹo”, 01 viên hồng phiến và một ít ma túy “đá” để sử dụng. Số ma túy còn lại Nguyễn Duy L cất giấu nhằm mục đích để bán cho khách. Sau khi sử dụng ma túy xong, L tiếp tục điều khiển xe máy đến đón bạn là Nguyễn Thị Kim N tại đầu ngõ A Đ đi uống nước. Khi L và N đi đến ngã 3 đường P - D thuộc phường M, quận N, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Duy L khai đã bán ma túy cho khách qua mạng xã hội từ tháng 6/2023 đến nay. Khi khách có nhu cầu mua ma túy sẽ nhắn tin cho Nguyễn Duy L qua mạng xã hội, sau đó chuyển tiền qua tài khoản cho L rồi hẹn vị trí giao nhận ma túy. Nguyễn Duy L sẽ mang ma túy đến khu vực đã hẹn và giấu ở một vị trí bất kỳ, sau đó liên lạc cho khách mua ra lấy ma túy. Ngoài việc trực tiếp bán ma túy, Nguyễn Duy L còn thuê một nam giới tên L1 (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook "Long N1" đi bán ma túy và mang tiền về cho mình. Sau khi nhận tiền bán ma túy từ “Long N1”, L sẽ tùy theo quãng đường đi giao ma túy mà trả công cho “Long N1” bằng tiền mặt từ 200.000 đồng – 300.000 đồng. Lời khai của Nguyễn Duy L phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với tang vật thu giữ và biên bản kiểm tra điện thoại.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại của Nguyễn Duy L phát hiện có nhiều tin nhắn liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh, ghi lời khai các đối tượng có liên quan gồm:

  • - Chị Nguyễn Thị Thanh T1 (sinh năm 1991, trú tại: Khu A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình). Chị T1 khai tháng 12/2023 đã đặt mua của L 02 viên ma túy kẹo và 1,5 chỉ “ke” với giá 5.400.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó, chị T1 đã chuyển số tiền tiền 5.400.000 đồng từ tài khoản V số 0976058069 của chị T1 vào tài khoản của L. Kết quả kiểm tra nước tiểu của chị T1 âm tính với ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • - Anh Nguyễn Quang N2 (sinh năm 1984, trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện H, Hà Nội). Anh N2 khai được anh Phan Văn G cho số điện thoại 0784.004.xxx để sử dụng. Ngày 12/12/2023, anh N2 có đặt mua 01 chỉ “ke” của anh L với giá 6.500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Sau đó, anh N2 đã chuyển số tiền 6.500.000 đồng tiền từ tài khoản T3 số 03548392101 của anh N2 vào tài khoản của L. Kết quả kiểm tra nước tiểu của anh N2 âm tính với ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • - Anh Nguyễn Thành H (sinh 1983, trú tại: TDP số E, phường P, quận N, Hà Nội). Anh H khai đã 2 lần mua ma túy của L. Lần thứ nhất vào khoảng tháng 10/2023, anh H mua 10 viên ma túy “kẹo” với giá 2.500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lần thứ hai vào khoảng tháng 11/2023, anh H mua của L 2.000.000 đồng ma túy để sử dụng cho bản thân. Anh H đã sử dụng tài khoản T4 số 19038299850011 để trả tiền mua ma túy cho L. Kết quả kiểm tra nước tiểu của anh H âm tính với ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • - Anh Phạm Tuấn Đ (sinh năm 1990, trú tại; Khu T, TT M, huyện T, tỉnh Hòa Bình). Anh Đ khai sử dụng số điện thoại 0968.025.xxx và số tài khoản Ngân hàng M2 số 0968025699. Cuối năm 2023, L nhắn tin nhờ anh Đ hỏi hộ giá ma túy nhưng sau đó L không mua ma túy. Các lần chuyển tiền với L là tiền Đ trả nợ vay mượn nhau, không liên quan đến việc mua bán ma túy. Anh Đ không biết việc L mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • - Anh Bùi Văn M (sinh năm 1997, trú tại: Xóm N, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình) đăng ký tài khoản T4 số 6128386999, anh Nguyễn Đình C (sinh năm 1990, trú tại: thôn Đ, xã A, huyện H, Hà Nội) đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 033830888, chị Y (sinh năm 1980, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0898.181.xxx. Anh M, anh C, chị Y khai từng đăng ký tài khoản và số điện thoại, tuy nhiên sau đó do bị mất điện thoại nên không còn sử dụng các số tài khoản và số thuê bao trên. Anh M, anh C, chị Y không quen biết và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Duy L và “Long Nguyễn” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
  • - Anh Trịnh Bá N3 (sinh năm 1993, trú tại: K, D, H, Hà Nội) sử dụng tài khoản MB Bank số 2222222222616, số điện thoại 0946.797.xxx; anh Nguyễn Công X (sinh năm 1985, trú tại: TDP K, D, H, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0979.193.xxx; chị Nguyễn Thị N4 (sinh năm 1996, trú tại: Số H, đường A, xã A, huyện H, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0936.308.xxx; chị Trần Minh A (sinh năm 1998, trú tại: P, P, C, Hà Nội) sử dụng số tài khoản ngân hàng V1 101876593340, số điện thoại 0977.393.xxx; anh Bùi Văn Đ1 (sinh năm 2006, trú tại: Xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Binh) sử dụng tài khoản M2 số 0347578705. Anh N3, anh X, anh Đ1, chị N4, chị A khai đến nay vẫn sử dụng các số tài khoản, số điện thoại trên. Tuy nhiên, quá trình sử dụng, chị N4 không sử dụng số điện thoại trên để đăng ký tài khoản zalo, Facebook “Hồ N”. Anh N3, anh X thường xuyên cho bạn bè mượn điện thoại, anh Đ1 làm nghề giao hàng qua app thường xuyên nhắn tin với khách hàng nên không giải thích được nội dung tin nhắn thu giữ trong máy của L. Anh N3, anh X, anh Đ1, chị N4, chị A không quen biết và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của L và “Long Nguyễn” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
  • - Anh Bùi Duy H1 (sinh năm 1989, trú tại: TDP K, D, H, Hà Nội) chủ đăng ký số điện thoại 0973.405.xxx; chị Bùi Thị M1 (sinh năm 1988, trú tại: Khu A, thị trấn M, huyện T, Hòa Bình) chủ đăng ký số điện thoại 0844.322.xxx; anh Trần Văn Đ2 (sinh năm 1982, trú tại: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang) chủ đăng ký số điện thoại 0377.642.xxx. Anh H1, chị M1, anh Đ2 khai không đăng ký, sử dụng các số điện thoại trên, không quen biết và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Duy L và “Long Nguyễn” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với đối tượng “Linh HB” sử dụng số điện thoại 0362.795.xxx: Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là anh Mạc Văn H2 (sinh năm 1978, trú tại: xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình). Anh H2 khai không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên. Tiến hành cho Nguyễn Duy L nhận dạng H2, Nguyễn Duy L xác định anh H2 không phải “Linh HB”. Quá trình điều tra, Nguyễn Duy L khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của “Linh HB” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với người nam giới sử dụng tài khoản Facebook “Long Nguyễn”: Do các khách mua và Nguyễn Duy L khai việc giao dịch thực hiện trực tiếp, L không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ, số điện thoại liên lạc của “Long N1" nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với Nguyễn Thị Kim N: Quá trình điều tra xác định N không biết, không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Duy L nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 28N1-368.15: Quá trình điều tra xác định không có có sở dữ liệu xe vật chứng, chủ đăng ký xe là anh Vũ Mạnh T2 (sinh năm 1990, trú tại: Phố Đ, V, L, Hòa Bình). Nguyễn Duy L khai mượn chiếc xe trên của ông Nguyễn Duy T (sinh năm 1959, trú tại: Khu T, phường D, quận H, Hà Nội) để làm phương tiện đi lại. Ông T khai mua chiếc xe trên vào tháng 9/2023 của anh Vũ Mạnh T2, hiện ông T còn giữ giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe trên. Anh T2 khai năm 2019 có đăng ký và sử dụng chiếc xe trên nhưng sau đó đã bán cho người khác. Do thời gian đã lâu và bán nhiều xe nên anh T2 không nhớ đã bán cho ai, vào thời gian nào, bao nhiêu tiền.
  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh lắp Sim số thuê bao 0876586098 và 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím lắp Sim số thuê bao 0968444102: L khai là điện thoại của L, sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
  • - Đối với số tiền 33.900.000 đồng: L khai do lao động, tích góp mà có.

Tại bản Cáo trạng số: 527/CT-VKSHN-P1 ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Duy L từ 16 năm đến 17 tù.

- Về xử lý vật chứng: Ma túy là vật cấm lưu hành trái phép nên tịch thu tiêu hủy. Cân điện tử bị cáo sử dụng để mua bán ma túy nên tịch thu tiêu hủy. Bị cáo sử dụng điện thoại vào việc liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc xe mô tô là của ông T nên trả lại ông T. Tờ tiền 02 USD tịch thu sung quỹ Nhà nước. Truy thu số tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Quang N2, Nguyễn Thanh H3 tổng số là 16.400.000 đồng. Trả lại bị cáo số tiền 33.900.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Luật sư bào chữa cho bị có ý kiến tranh luận như sau: Tôi không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã viện dẫn đối với bị cáo. Đề nghị tòa xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; có thành tích giải cứu con tin được Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản H5 tặng bằng khen; bố mẹ bị cáo được tặng nhiều huân, huy chương; gia đình có hoàn cảnh khó khăn để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Lời khai của Nguyễn Duy L tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Duy L làm quen và bắt đầu mua ma túy “kẹo”, “ke”, “đá”, hồng phiến của đối tượng “Linh HB” ở Hòa Bình để về bán lẻ kiếm lời. Giữa tháng 12/2023, Nguyễn Duy L đặt mua của “Linh HB” 03 túi ma túy hồng phiến và một số mẫu thử “đá”, “kẹo”, “ke”, hồng phiến nhằm mục đích bán lại cho khách. Khoảng 14 giờ ngày 29/12/2023, sau khi nhận được ma túy của “Linh HB”, Nguyễn Duy L đã cất giấu ma túy vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe máy chở chị Nguyễn Thị Kim N đi đến khu vực ngã 3 đường P - D, phường M thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ tổng số 61,62 gam ma túy Methamphetamine, 2,166 gam ma túy Ketamine, 2,544 gam ma túy MDMA.

Hành vi của Nguyễn Duy L đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2]. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy L là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất kịch độc, tàn phá và hủy hoại sức khỏe giống nòi, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác; bị cáo nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy và tệ nạn ma túy nhưng vì hám lời vẫn tham gia mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn gây nguy hại cho xã hội. Về nhân thân, bị cáo L có 03 tiền án tuy đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Ngoài lần bị bắt quả tang, bị cáo L còn khai bán ma túy cho nhiều đối tượng khác nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo L thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo được Bằng khen của Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản H5 về thành tích giải cứu con tin. Bố bị cáo được tặng nhiều huân huy chương. Mẹ bị cáo được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[2.3]. Xét bị cáo bán ma túy cho nhiều người nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[2.4]. Về xử lý vật chứng như sau:

  • - Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành trái phép, độc hại; cân điện tử bị cáo phục vụ cho việc mua bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với điện thoại và sim điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với chiếc mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 28N1 - 36815 là của ông Nguyễn Duy T cho bị cáo mượn, ông T không biết bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy. Tại phiên tòa, ông T xin lại chiếc xe trên. Xét thấy, ông T không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng mô tô vào việc phạm tội và ông T là chủ sở hữu hợp pháp nên trả lại chiếc xe trên cho ông T.
  • - Đối với số tiền 33.900.000 đồng là của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[2.5]. Bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2.6]. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Duy L: 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.

    Phạt bị cáo Nguyễn Duy L 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy ma túy và cân điện tử; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD (các vật chứng trên trong 01 hộp catton kích thước khoảng (05x10x20)cm được niêm phong dán kín, trên các mép dán niêm phong có chữ ký của các thành phần ghi gồm: Nguyễn Duy L, cán bộ Lê Xuân C1 và Nguyễn Bá A1, chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu của Công an phường M - Công an quận N).
    2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
      1. Một điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim, có số imei: 353869221838940.
      2. Một điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu tím, bên trong có gắn 01 thẻ sim, có số imei: 3558165607807665.
    3. Trả lại ông Nguyễn Duy T một xe máy Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, có BKS: 28N1 – 36815, số khung: RLCUG0610HY404491, số máy: G3D4E 423603. Theo phiếu xác minh phương tiện giao thông đường bộ của Phòng PC08, Công an thành phố H ngày 24/9/2024 trả lời như sau: BKS: 28N1 – 36815, số khung: RLCUG0610HY404491, số máy: G3D4E 423603; nhãn hiệu: Yamaha; số loại: Exciter; màu sơn: trắng đen đỏ; dung tích xi lanh 149; năm sản xuất: 2016; số chỗ ngồi 01.

      (tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).

    4. Trả lại bị cáo Nguyễn Duy L số tiền 33.900.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (theo Ủy nhiệm chi, đơn vị nhận tiền: Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; tài khoản: 3949.0.1052728 tại kho bạc Nhà nước quận H).
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội;
  • - Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Trại tạm giam - Công an TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỊNH QUỐC TRÍ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 726/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 726/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger