Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 725/2024/HSPT
Ngày 09 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông

Ông Phạm Văn Tuyển

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị L, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 928/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Đình T do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo bị kháng cáo: Lê Đình T, sinh ngày 27/7/2006; tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nguyên quán và nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lê Đình G, sinh năm 1982; Con bà: Quản Thị T1, sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 18/4/2023, bị TAND huyện Yên Định xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/11/2023. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa;

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lê Đình G, sinh năm 1982 và bà Quản Thị T1, sinh năm 1982; đều ở địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa;

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Q, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt tại phiên tòa;

Ngoài ra còn có các bị cáo khác, đại diện người bị hại do không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 28/5/2023, khi đang đi trên đường đê đến thôn T, xã Đ, huyện Y thì Trần Tuấn A cùng Lưu Tuấn A1 bị nhóm thanh niên người xã Đ gồm 4 người đi bằng 2 xe máy đi từ phía sau vượt lên trước đầu xe, trong đó có một người tát vào đầu Trần Tuấn A và nói: “Mi thích tán gái làng tau không”. Trần Tuấn A cùng Lưu Tuấn A1 không nói gì mà vẫn tiếp tục điều khiển xe đi tiếp. Lúc này, mẹ của Trần Tuấn A gọi điện thoại bảo về nhưng nhóm thanh niên xã Đ lại nói: “Mi gọi ai thì mi gọi đi, bọn tau tiếp hết”. Sau đó, trong nhóm thanh niên xã Đ có người nói: “Thôi cho bọn nó về đi”. Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1 đi ra đến gần cầu Y thì Trần Tuấn A gọi điện thoại cho Lê Đình T và nói: “Tau bị bọn nó đánh”; T hỏi: “Bọn mô? Mi đang ở mổ”. Trần Tuấn A nói: “Đang ở trên vườn hoa hướng dương Đ”.

Khoảng 30 phút sau, Lê Đình T điều khiển xe máy chở theo Nguyễn Văn M đến gần cầu Y gặp Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1. Vừa đến nơi, Nguyễn Văn M hỏi: “Bọn nó đâu hết rồi”; Trần Tuấn A trả lời: “Trên kia kìa”; xong rồi Trần Tuấn A chỉ cho Lê Đình T và Nguyễn Văn M hướng của đoạn đường chỗ lên đoạn đường đê mà Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1 bị đánh trước đó. Lúc này, Lê Đình T nói: “Đi lên đi”. Trần Tuấn A điều khiển xe máy chở Lưu Tuấn A1 đi trước dẫn đường cho Lê Đình T và Nguyễn Văn M, khi đi đến đoạn dốc đường đê thuộc thôn T, xã Đ, là nơi Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1 thấy nhóm thanh niên xã Đ đứng trước đó nhưng lúc này không thấy có ai nên Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1, Nguyễn Văn M, Lê Đình T đi thêm một đoạn thì gặp Trịnh Văn T2. Do Nguyễn Văn M có quen với Trịnh Văn T2 từ trước nên Nguyễn Văn M hỏi Trịnh Văn T2: “Mi có thấy đám đứng trên đây không em?”; Trịnh Văn T2 trả lời: “Bọn nó về hết rồi”. Lúc này, Lưu Tuấn A1 hỏi Trịnh Văn T2: “Có thằng nào đi xe SIRIUS màu đỏ không?”. Trịnh Văn T2 lấy điện thoại mở Facebook cho mọi người xem thì Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 xác định người sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Huy H là người đã đe dọa, đánh Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1. Do đó, Lê Đình T nói với Trịnh Văn T2: “Mi gọi nó ra đây gặp anh có tí việc”. Trịnh Văn T2 lấy điện thoại ra gọi cho Nguyễn Huy H qua ứng dụng Facebook messenger và nói: “Mi lên đê tau gặp có việc” thì Nguyễn Huy H trả lời: “Có gì nói qua điện thoại”. Trịnh Văn T2 nói tiếp: “Việc ni phải nói ngoài đây mới được”, thì Nguyễn Huy H trả lời: “Bố tau không cho đi”, xong Nguyễn Huy H tắt máy điện thoại. Lúc này, Nguyễn Văn M nói với Trịnh Văn T2 là: “Mi ngu lắm, mi phải nói với nó là xe tau hết xăng, mi hút ít xăng, không lên đây đẩy tau về cấy”. Nghe Nguyễn Văn M hướng dẫn thì Trịnh Văn T2 tiếp tục gọi điện cho Nguyễn Huy H và nói: “Xe tau hết xăng, mi hút ít xăng, không lên đây đẩy tau về cấy”. Lúc này, Nguyễn Huy H nói: “Chờ tý tau lên”. Sau khi Trịnh Văn T2 gọi điện và biết là Nguyễn Huy H sẽ đến nên Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1, Nguyễn Văn M, Lê Đình T và

Trịnh Văn T2 cùng đi đến khu vực ngã ba lên đê thuộc thôn T, xã Đ đứng đợi Nguyễn Huy H ra để đánh.

Trong lúc đứng đợi, do sợ khi Nguyễn Huy H ra mà thấy đông người thì sẽ không dám đến gần. Vì vậy, Nguyễn Văn M nói với mọi người: “Hai thằng Tuấn A1 và thằng T đứng dưới dốc đi, tau đứng trên đây”. Nghe Nguyễn Văn M nói thì Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T đi xuống dốc tìm chỗ nấp, Nguyễn Văn M nấp ở đống gỗ gần cây vú sữa trước nhà người dân bên lề mặt đường đê; còn Trịnh Văn T2 thì ngồi trên xe máy dựng ở trên đường đê để đợi Nguyễn Huy H đến. Khoảng 20 phút sau, thấy xe của Nguyễn Huy H đi đến thì Trần Tuấn A cùng Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T từ dưới dốc cùng lao lên trên đường đê để chặn xe của Nguyễn Huy H; nhưng vì Nguyễn Huy H phát hiện thấy nên đã tăng ga, đánh lái về phía bên trái đường để bỏ chạy thì lại đến đúng vị trí của Nguyễn Văn M đang nấp. Ngay lập tức, Nguyễn Văn M lao từ chỗ nấp ra rồi đạp một phát trúng vào đuôi xe của Nguyễn Huy H đang điều khiển với tốc độ cao làm cho Nguyễn Huy H cùng với xe bị ngã ra đường. Thấy Nguyễn Huy H bị ngã và đang lồm cồm bò dậy, Trần Tuấn A lao đến dùng chân đạp vào đầu của Nguyễn Huy H 02 cái. Do bị văng dép khỏi chân nên Trần Tuấn A quay sang để nhặt dép thì Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T cũng chạy lại định đánh Nguyễn Huy H, nhưng thấy Nguyễn Huy H nằm bất động ở trên mặt đường nên Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T dừng lại không đánh Nguyễn Huy H nữa. Sau đó, Trịnh Văn T2 chạy lại bế Nguyễn Huy H lên xe rồi Nguyễn Văn M điều khiển xe chở Trịnh Văn T2 ngồi sau ôm Nguyễn Huy H đến Trạm y tế xã Đ để cấp cứu. Khi đến trạm y tế Nguyễn Văn M bế Nguyễn Huy H vào giường rồi đi ra gọi Lê Đình T lấy xe máy đi về; còn Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Trịnh Văn T2 ở lại Trạm y tế xã Đ để xem tình hình của Nguyễn Huy H thế nào. Khi biết Nguyễn Huy H đã tử vong, Nguyễn Văn M, Lê Đình T đến Công an huyện Y đầu thú; Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Trịnh Văn T2 đến Công an xã Đ để đầu thú.

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại khu vực đường Đ, thuộc thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Đường đổ bê tông bằng phẳng, lòng đường rộng 5m, hướng Đông đi về phía cầu Y, hướng Tây đi xã Đ. Phía B là lề đường, tiếp đến là nhà ông Trịnh Văn N - sinh năm 1980 và nhà ông Trịnh Văn B1 - sinh năm 1982. Phía Nam tương ứng đối diện nhà ông B1 là đường thôn Trịnh Điện .

Dấu vết hiện trường được ghi nhận cụ thể như sau: Vết cà xước trên mặt đường không liên tục dài 3,65m, vị trí rộng nhất 0,2m, đầu vết cách mép đường phía Bắc 1,25m, cách cây cột điện tại lề đường phía Bắc (ở phía trước nhà ông N và ông B1) là 1,33m, cuối vết cách mép đường phía Bắc là 1,08m (BL108-116).

Tại Biên bản khám nghiệm tử thi Nguyễn Huy H lập hồi 03h30' ngày 29/5/2023 xác định (BL 118-144):

"1. Khám ngoài:

  • + Phía trên mặc áo cộc tay màu trắng, phía dưới mặc quần bò ống dài màu xanh, bên trong mặc quần lót màu đen; hai chân đi tất màu tím than. Chiều dài 170cm, thể trạng trung bình, tử thi trong thời kỳ khô lạnh.
  • + Dấu vết trên quần áo: Mặt ngoài phần trước nửa trên ống quần bò bên phải có vết cà trượt làm sờn rách vải không rõ hình kích thước (39 x 11)cm, vết có chiều từ trên xuống dưới, mặt vết bám dính bụi đất.
  • + Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
  1. Sát dưới xương đòn trái và vùng ngực trái có diện xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục kích thước (12 x 8)cm, nền vị trí xây xước đã đóng vẩy, nền vị trí bầm tụ máu có màu vàng nhạt.
  2. Vết xây xước da không rõ hình kích thước (10 x 8,8)cm tại mặt trên ngoài sau vai phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  3. Vết xước da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục kích thước (7 x 6)cm tại mặt ngoài sau 1/3 trên cẳng tay phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  4. Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (3,9 x 2,2)cm sát trên mào chậu phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  5. Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (4 x 2,3)cm tại mặt ngoài 1/3 trên đùi phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  6. Vết xây xước da không rõ hình kích thước (1 x 0,9)cm tại mặt ngoài gối phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  7. Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục kích thước (7,5 x 1,7)cm tại mặt ngoài 1/3 dưới cẳng chân phải và mắt cá ngoài bên chân phải, vết có chiều từ trên xuống dưới.
  8. Vết xây xước da không rõ hình kích thước (3,8 x 1,9)cm tại mặt trong 1/3 dưới cẳng chân phải, vết có chiều từ dưới lên trên.
  9. Vết xây xước da không rõ hình kích thước (0,8 x 0,6)cm tại mặt trên ngón 2 bàn chân phải, vết có chiều từ sau về trước.
  10. Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục kích thước (5 x 2,9)cm tại mặt trên ngón 1, 2, 3 bàn chân trái, vết có chiều từ sau về trước.

2. Mổ tử thi:

  • + Vùng đầu: Tổ chức dưới da đầu vùng đỉnh phải tụ máu kích thước (2,5 x 1,8)cm, cơ thái dương 2 bên không có tổn thương, xương hộp sọ trắng đều không có tổn thương; mở hộp sọ: Màng cứng không bị rách. Tụ máu lan tỏa màng mềm bán cầu đại não 2 bên và tiểu não tụ máu quanh thân não. Não thất bên chứa dịch máu.
  • + Vùng cổ, ngực, bụng: Tổ chức dưới da, cơ vùng ngực tụ máu rải rác không liên tục. Tổ chức dưới da, cơ vùng cổ, vùng bụng không phát hiện thấy tổn thương. Hệ thống xương lồng ngực không có tổn thương. Khoang ngực 2 bên không có dịch.
  • + Tim: Khoang ngoài tim có ít dịch. Tim khích thước (11 x 9 x 6,5)cm. Cơ và van tim không phát hiện thấy tổn thương.
  • + Hai phổi trung bình, tổ chức phổi không phát hiện thấy tổn thương.
  • + Các tạng khác trong ổ bụng không phát hiện thấy tổn thương”.
  • + Ổ bụng không có dịch. Gan màu nâu nhạt, mật độ mềm, không phát hiện thấy tổn thương. Dạ dày có ít thức ăn đã nhuyễn lẫn dịch. Niêm mạc dạ dày không phát hiện thấy tổn thương.

Tại Kết luận giám định số 4807B/KL-KTHS ngày 01/7/2023 của V - Bộ C kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Nguyễn Huy H gửi giám định không tìm thấy ethanol và các chất ma túy” (BL 149).

Tại Kết luận giám định mô bệnh học số 4807A/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của V – Bộ C kết luận: “Hình ảnh xuất huyết khoang dưới nhện não, tiểu não; phổi sung huyết, xuất huyết, phù phế nang, rách đứt vách phế nang rải rác; tim, gan sung huyết” (BL 152-153).

Tại Kết luận giám định tử thi số 2986/KLGĐTT-PC09 ngày 18/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T: “Nguyên nhân chết của Nguyễn Huy H do tụ máu quanh thân não, tụ máu màng mềm” (BL 154-155).

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT tiến hành Kiểm tra ứng dụng Facebook messenger trên điện thoại của Trịnh Văn T2 xác định:

  • - Tài khoản “Nguyễn Huy H” – Bạn đã gọi cho H 28 Th5;
  • - 28 TH5 LÚC 22:54: Cuộc gọi thoại 42 giây và Cuộc gọi thoại 17 giây.

Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động Redmi 10C màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A03 được niêm phong trong 02 phong bì thư do Công an tỉnh T phát hành được dán kín có chữ ký của thành phần tham gia cùng con dấu của Công an xã Đ các vật chứng nêu trên sẽ được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý.

* Về trách nhiệm Dân sự:

Ngày 06/6/2023, đại diện gia đình của Nguyễn Văn M, Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1, Lê Đình T và Trịnh Văn T2 đã hỗ trợ tiền mai táng phí cho gia đình bị hại Nguyễn Huy H, tổng số tiền là 60.000.000đ.

Ngày 9/7/2023, đại diện gia đình Nguyễn Văn M, Trần Tuấn A, Lê Đình T và Trịnh Văn T2 hỗ trợ, bồi thường thiệt hại về vật chất cho gia đình bị hại Nguyễn Huy H với tổng số tiền 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng), cụ thể: Gia đình Nguyễn Văn M và Trần Tuấn A bồi thường mỗi nhà 115.000.000đ; Gia đình Lê Đình T và gia đình Trịnh Văn T2 bồi thường mỗi nhà 40.000.000đ. Bị cáo Lưu Tuấn A1 không có bồi thường trong tổng số tiền này.

Cáo trạng số 62/CT-VKS (P2) ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Giết người” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình T phạm tội: “Giết người”.

[2] Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.4. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Đình T: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù của Bản án số 21/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, bị cáo Lê Đình T phải chấp hành hình phạt chung là: 10 (mười) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/10/2023).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, phổ biến quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo: Ngày 08/7/2024, anh Lê Đình G và chị Quản Thị T1 là người đại diện hợp pháp cho bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

4.1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo là anh Lê Đình G và chị Quản Thị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo

4.2. Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội có tính đồng phạm giản đơn, không có mục đích giết bị hại, việc bị hại chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; tại phiên tòa gia đình bị cáo xuất trình thêm được giấy xác nhận gia đình bị cáo có thân nhân là liệt sỹ, bị cáo có ủng hộ xây nhà ở cho hộ nghèo ở địa phương. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

4.3. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Ngày 08/7/2024, anh Lê Đình G và chị Quản Thị T1 kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như kết quả tranh luận tại phiên tòa thấy có đủ căn cứ kết tội bị cáo như bản án sơ thẩm đã tuyên; tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo xuất trình thêm được giấy xác nhận gia đình bị cáo có thân nhân là liệt sỹ, bị cáo có ủng hộ xây nhà ở cho hộ nghèo ở địa phương nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/7/2024, anh Lê Đình G và chị Quản Thị T1 kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định nên hợp lệ và được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đình T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án hình sự sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 28/5/2023, khi đang đi trên đường đê đến thôn T, xã Đ, huyện Y thì Trần Tuấn A cùng Lưu Tuấn A1 bị nhóm thanh niên người xã Đ gồm 4 người đi bằng 2 xe máy đi từ phía sau vượt lên trước đầu xe, trong đó có một người tát vào đầu Trần Tuấn A và nói: “Mi thích tán gái làng tau không”. Lúc này, mẹ của Trần Tuấn A gọi điện thoại bảo về nhưng nhóm thanh niên xã Đ lại nói: “Mi gọi ai thì mi gọi đi, bọn tau tiếp hết”. Sau đó, trong nhóm thanh niên xã Đ có người nói: “Thôi cho bọn nó về đi”. Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1 đi ra đến gần cầu Y thì Trần Tuấn A gọi điện thoại cho Lê Đình T và nói: “Tau bị bọn nó đánh”; T hỏi: “Bọn mô? Mi đang ở mổ”. Trần Tuấn A nói: “Đang ở trên vườn hoa hướng dương Đ”. Lê Đình T nhận lời sau đó rủ thêm Nguyễn Văn M cùng đi với mình đến gặp Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 thì nhóm thanh niên xã Đ đã về. Cả nhóm gồm Lê Đình T Nguyễn Văn M, Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 đi tiếp thì gặp Trịnh Văn T2. Do Nguyễn Văn M quen biết Trịnh Văn T2 nên M hỏi T2 có biết nhóm thanh niên gây sự với Trần Tuấn A không, sau đó Trịnh Văn T2 lấy điện thoại mở Facebook cho mọi người xem hình ảnh thì Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 xác định người sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Huy H là người đã đe dọa, đánh Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1. Sau khi đã xác định Nguyễn Huy H là người trong nhóm thanh niên, thì Lê Đình T và Nguyễn Văn M nói Trịnh Văn T2 gọi điện dụ Nguyễn Huy H ra đường đê mục đích để đánh trả thù. Sau đó, Trịnh Văn T2 đã dùng điện thoại gọi điện cho Nguyễn Huy H. T2 gọi lần đầu thì H không đi, thì Nguyễn Văn M hướng dẫn cho T2 nói dối H là xe máy của T2 hết xăng nhờ H đến đẩy xe về giúp, làm theo như lời hướng dẫn của Nguyễn Văn M thì T2 gọi lại cho H, khi nghe T2 nói vậy, Nguyễn Huy H không nghi ngờ gì đã đồng ý ra giúp T2. Khi biết H sẽ ra gặp, Nguyễn Văn M đã sắp xếp bố trí cho Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T xuống dốc đê tìm chỗ nấp, Nguyễn Văn M sẽ nấp trên đường đê, còn Trịnh Văn T2 thì ngồi trên xe dựng trên đường đê để Nguyễn Huy H đến dễ nhìn thấy T2.

Khi Nguyễn Huy H đi xe máy đến, Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T từ chỗ nấp dưới dốc đê chạy ra đường thì Nguyễn Huy H phát hiện đã tăng ga xe bỏ chạy, Nguyễn Văn M từ chỗ nấp lao ra dùng chân đạp trúng vào đuôi xe của Nguyễn Huy H, do xe đang chạy với tốc độ nhanh làm cho Nguyễn Huy H cùng với xe bị ngã ra đường. Khi Nguyễn Huy H đang lồm cồm đứng dậy thì Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T lao đến chỗ Nguyễn Huy H. Trần Tuấn A chạy trước dùng

chân đá 02 phát trúng đầu Nguyễn Huy H, Lưu Tuấn A1 và Lê Đình T chạy tới sau thấy Nguyễn Huy H nằm im nên dừng lại không đánh nữa. Sau đó thì Nguyễn Huy H được cả nhóm đưa đi cấp cứu, trong đó Trần Tuấn A và Trịnh Văn T2 bế H lên xe để Nguyễn Văn M điều khiển xe còn Trịnh Văn T2 ngồi sau ôm H đưa đến Trạm y tế xã Đ cấp cứu. Khi đến trạm y tế Nguyễn Văn M bế Nguyễn Huy H vào giường rồi đi ra gọi Lê Đình T lấy xe máy đi về; còn Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Trịnh Văn T2 ở lại Trạm y tế xã Đ để xem tình hình của Nguyễn Huy H thế nào. Khi biết Nguyễn Huy H đã tử vong, Nguyễn Văn M, Lê Đình T đến Công an huyện Y đầu thú; Trần Tuấn A, Lưu Tuấn A1 và Trịnh Văn T2 đến Công an xã Đ để đầu thú.

Bị cáo Lê Đình T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh người là vi phạm pháp luật. Bị cáo đồng tình với các bị cáo trong việc gọi H đến để giải quyết mâu thuẫn và không có ý thức tước đoạt tính mạng H, nhưng thống nhất trong hành động (phân công vị trí) làm sao bắt giữ được H khi H đến nên phải chịu chung về hậu quả xảy ra, việc Nguyễn Văn M dùng chân đạp vào xe máy đang chạy tốc độ nhanh và Trần Tuấn A dùng chân đá vào vùng đầu là vùng nguy hiểm có khả năng làm chết người và hậu quả là H đã chết là kết quả tất yếu do hành vi của các bị cáo gây ra, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Đình T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[3] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo thì thấy:

[3.1] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo Lê Đình T có nhân thân xấu (phạm tội trong thời gian thử thách); khi nghe Trần Tuấn A gọi điện để đi đánh nhau thì bị cáo đồng ý ngay và rủ thêm Nguyễn Văn M cùng đi, cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội, chủ động cùng M nói với T2 mở điện thoại xác nhận nhóm thanh niên gây sự đánh Trần Tuấn A và Lưu Tuấn A1; bị cáo thực hiện theo sự sắp xếp của Minh nấp chờ H đến để đánh H; tuy bị cáo chưa đánh H nhưng hành vi của bị cáo là chủ động, tích cực có tác động giúp sức để các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội gây ra hậu quả không mong muốn là cái chết của H. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có tham gia đưa H đến Trạm y tế xã Đ để cấp cứu; khi biết H chết, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình đã bồi thường dân sự khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại 40.000.000 đồng; cùng các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Tuấn A, Lê Đình T, Lưu Tuấn A1, Trịnh Văn T2 tác động gia đình hỗ trợ tiền mai táng phí cho gia đình bị hại tổng số tiền là 60.000.000 đồng và đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo có ông nội Lê Đình O được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bà nội Lê Thị N1 được Huân chương kháng chiến hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo Lê Đình T 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3.2] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo tỏ ra rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong muốn Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hứa quyết tâm tự cải tạo để sớm được về với gia đình và hòa nhập với xã hội. Xét thấy, bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; phạm tội có tính chất đồng

phạm giản đơn; việc bị hại chết nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo; bị cáo cũng đã tích cực cùng các bị cáo khác đưa bị hại cấp cứu và đến đầu thú khi biết tin bị hại chết; gia đình bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị cáo xuất trình thêm giấy xác nhận gia đình bị cáo có thân nhân là liệt sỹ, bị cáo có ủng hộ xây nhà ở cho hộ nghèo ở địa phương; để động viên bị cáo tích cực cải tạo để sớm trở thành người lương thiện, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Lê Đình T, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên người đại diện hợp pháp của bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt, cụ thể.

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội: “Giết người”.
  • - Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Đình T: 08 (tám) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù của Bản án số 21/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, bị cáo Lê Đình T phải chấp hành hình phạt chung là: 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/11/2023).

2. Về án phí: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình T là ông Lê Đình G và bà Quản Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Phan Nam
- Công an tỉnh Thanh Hóa;
- Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
- Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo;
- Người bào chữa cho bị cáo;
- Lưu P. HCTP, Hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 725/2024/HSPT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 725/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger