|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 725/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/6/2025 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý 1705/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/12/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 174/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh ngày 09/02/1985, CCCD số [...] (vắng mặt)
Thường trú: Thôn V, L, Ứ, Hà Nội
Tạm trú: A Đường D, Khu phố Y, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh ngày 30/3/1985, CCCD số [...] (vắng mặt)
Thường trú: V 1, H, H2, Thanh Hóa.
Lưu trú: S ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà L và ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2011 tại UBND xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từ sau khi kết hôn và sinh con, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải hàn gắn với nhau nhưng không thành và đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà L nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên bà L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật P (sinh ngày 07/5/2010) và Nguyễn Ngọc Hoài T (sinh ngày 21/12/2013). Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 48, Quyển số 01/2011 do UBND xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 07/12/2011 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông C là hôn nhân hợp pháp.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn C không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu, không giao nộp chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bà L để làm cơ sở giải quyết vụ án. Theo như lời khai của bà L thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Bà L và ông C sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có qua lại, mạnh ai nấy sống. Hiện nay, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông C. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải nhưng ông C vẫn không đến Tòa án tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa, bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không thể hòa giải để vợ chồng trở về sống chung với nhau. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định đời sống chung vợ chồng của bà L và ông C đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông C.
[6] Về con chung: bà L và ông C có 02 con chung tên Nguyễn Nhật P (sinh ngày 07/5/2010) và Nguyễn Ngọc Hoài T (sinh ngày 21/12/2013). Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như nguyện vọng của cháu Nhật P, Hoài T, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nhật P và cháu Hoài T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông C cũng không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn cấp dưỡng nuôi con của ông C cho đến khi có yêu cầu.
[8] Về tài sản chung: Bà L và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về nợ chung: Bà L và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Án phí ly hôn là 300.000 đồng, bà L chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Bà L và ông C có hai con chung tên Nguyễn Nhật P (sinh ngày 07/5/2010) và Nguyễn Ngọc Hoài T (sinh ngày 21/12/2013). Giao hai con chung cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn C cho đến khi có yêu cầu.
Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà L phải nộp án phí ly hôn là 300.000đồng, và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng mà bà L đã nộp theo biên lai số 0047633 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Phương Nam |
4
Bản án số 725/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 725/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
