Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 725/2025/DS-PT

Ngày 16/12/2025

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Khương

Ông Nguyễn Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 844/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • 1.1. Ông Phạm Hồng S, sinh năm 1966
  • 1.2. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1959 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số A, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S là bà Lê Thị Đ và anh Phạm Trọng T, sinh năm 1990; địa chỉ: số A, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ (có mặt).

2. Bị đơn:

  • 2.1. Bà Lê Thị Q, sinh năm 1941
  • 2.2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số D, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

Ông T1 đại diện theo ủy quyền cho bà Q tham gia tố tụng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, là Luật sư, thành viên Văn phòng L – Đoàn luật sư thành phố C.

2

tụng:

* Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Lê Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày và yêu cầu tại đơn khởi kiện và trong quá trình tổ tụng:

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ của nguyên đơn cho, diện tích 603m², thửa số 321, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01313/QSDĐ do UBND thành phố C cấp ngày 05/4/1996 cho ông Phạm Hồng S đứng tên. Đến tháng 4/2023, bà Lê Thị Q, ông Lê Văn T1 đã xây dựng 02 căn nhà gạch mái tol và căn nhà mồ lấn qua phần diện tích đất của nguyên đơn.

Do trước đây đất của nguyên đơn được cấp giấy đại trà nên diện tích đất thực tế là dư so với giấy, nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đều có trụ ranh, nay phía bị đơn lấn qua trụ ranh vào phần đất nguyên đơn quản lý sử dụng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ tháo dỡ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất trả lại hiện trạng đất theo trụ ranh cũ. Qua kết quả đo đạc thực tế ngày 12/3/2024 và theo Bản trích đo địa chính số 26-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả lại phần đất do lấn, chiếm tại vị trí A, diện tích là 115.8m².

- Bị đơn ông Lê Văn T1 (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị Q) trình bày:

Phần đất mà nguyên đơn tranh chấp có nguồn gốc của chồng bà Lê Thị Q là ông Lê Văn B, đất thuộc thửa 318 (cũ), tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Ông B sử dụng đất từ trước năm 1975 và được chính quyền chế độ cũ cấp giấy Chứng thư sở hữu ngày 20/01/1973, diện tích 20.000m². Diện tích thửa đất 318, theo sổ mục kê năm 2005 là 2.014m². Vào năm 2016, khi nguyên đơn có tranh chấp với bị đơn về thửa 318 thì Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận cho bị đơn phần diện tích 1,625.8m² tương ứng với 02 thửa mới là 2291 và 2292 và bị đơn đã đăng ký quyền sở hữu theo quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đất mà nguyên đơn tranh chấp với bị đơn là phần còn lại của thửa 318 (cũ), vì tổng diện tích thửa 318 là 2.014m² nhưng khi tranh chấp, bà Đ chỉ yêu cầu cơ quan chức năng đo 1,625.8m², phần còn lại bà Đ không cho đo nên Tòa án khi đó chỉ tuyên xử công nhận cho phía bị đơn phần diện tích 1,625.8m² trong tổng diện tích 2014m². Diện tích đất còn lại của thửa 318 là 388m² và bị đơn được giao theo Quyết định số 3480/QĐ-UBND ngày 16/10/2013 của UBND quận B (cũ), nhưng phía bị đơn chưa kê khai đăng ký. Trên đất không có công trình nhà cửa như nguyên đơn trình bày, chỉ có mái che khu mộ, 03 cây dừa và 01 cây xoài của bị đơn trồng, bị đơn không yêu cầu định giá. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ, đã quyết định:

3

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Hồng S, bà Lê Thị Đ về việc buộc bị đơn bà Lê Thị Q, ông Lê Văn T1 trả lại phần diện tích đất 115.8m² tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 26-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C (Kèm bản trích đo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22/8/2025, nguyên đơn bà Lê Thị Đ kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với các lý do:

Thửa đất 321 của nguyên đơn diện tích đo đạc thực tế là 658,9m², nhưng trong đó có diện tích HLATS là 98m², nên diện tích thực tế nguyên đơn sử dụng là 658,9m² – 98m² = 560,9m². So với diện tích được cấp trong giấy 603m² nên còn thiếu so với giấy là 42,1m². Việc Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hết diện tích đất tranh chấp 115,8m² cho bị đơn là không phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, còn bị đơn không đồng ý, thống nhất bản án sơ thẩm đã quyết định.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn phát biểu quan điểm tranh luận:

Theo Biên bản xem xét, thẩm định thì trên đất tranh chấp không có công trình trên đất, chỉ có mái che khu mộ và 03 cây dừa loại C do bị đơn trồng. Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đất tranh chấp 115,8m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Đất tranh chấp có nguồn gốc do gia đình bị đơn được chính quyền chế độ cũ cấp giấy Chứng thư quyền sở hữu vào năm 1973. Trước đây, Tòa án 02 cấp cũng đã xét xử vụ án tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn với bị đơn, kết quả không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận phản tố của bị đơn. Đất tranh chấp 115,8m² nằm trong diện tích đất 388m² (thuộc thửa 318 cũ) mà gia đình bị đơn được UBND quận B (cũ) ban hành Quyết định hành chính số 3480/QĐ-UBND ngày 16 tháng 10 năm 2013 về việc cho bị đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận sử dụng đất (thửa 318). Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung kháng cáo:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, nhận thấy: Không tính diện tích đất tranh chấp thì nguyên đơn sử dụng thửa đất 321 có thừa so với giấy được cấp nên nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả lại diện tích đất tranh chấp 115,8m² là không có cơ sở. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để chấp

4

nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Đ.

    Thửa đất 321 của ông Phạm Hồng S có diện tích được cấp là 603m2. Diện tích thực tế qua đo đạc là 658,9m2, tức là dư so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi kháng cáo, nguyên đơn đưa ra số liệu về diện tích đất HLATS (98m2) cho rằng không nằm trong giấy được cấp để chứng minh diện tích sử dụng thực tế vẫn còn thiếu, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng:

    Số liệu về diện tích đất thực tế đang sử dụng của nguyên đơn được căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 26-2025 ngày 30/6/2025 là 658,9m2. Việc Nguyên đơn đưa ra ý kiến về diện tích HLATS (98m2) để giảm diện tích sử dụng xuống còn 560,9m2 là chưa phù hợp, bởi lẽ:

    Hình thể thửa đất 321 của nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996 có vị trí tiếp giáp với đường đi. Hiện tại, phần đất HLATS 98m² thể hiện theo Bản trích đo địa chính, bao gồm:

    Phần đất là đường giao thông (đường đi) có chiều ngang 2.1m x dài 11,4m (theo kích thước chiều ngang thửa đất 321) = 23,94m². Trừ phần đất đường giao thông thì diện tích đất HLATS thuộc phạm vi của thửa đất 321 sẽ là 74,06m². Trừ phần đất đường giao thông thì diện tích thực tế thửa 321 mà nguyên đơn đang sử dụng (không tính phần tranh chấp) là 634,96m² (658,9m² - 23,94m²), như vậy vẫn còn thừa 31,96m² (634,96m² – 603m²) so với giấy được cấp.

    Nguyên đơn cho rằng, diện tích đất thực tế dư so với giấy vì được cấp đại trà nhưng lại yêu cầu bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm 115,8m2 cũng là mâu thuẫn và không có căn cứ pháp lý rõ ràng.

  2. Theo quy định pháp luật về đất đai, người sử dụng đất hợp pháp phải căn cứ vào ranh giới và diện tích được ghi nhận trong Giấy chứng nhận. Nhưng hiện tại, diện tích đang sử dụng thực tế của nguyên đơn vẫn dư so với Giấy chứng nhận như nêu trên nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả lại 115,8m² đất cho rằng bị lấn, chiếm là không có căn cứ để được chấp nhận.
  3. Về vật kiến trúc: Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, trên đất tranh chấp không có công trình, vật kiến trúc, chỉ có mái che khu mộ do ông T1 xây dựng, 03 cây dừa và 01 cây xoài. Do đó, yêu cầu di dời tài sản cũng không có cơ sở.
  4. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và quy định pháp luật. Nguyên đơn bà Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận.
  5. Quan điểm tranh luận của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phúc thẩm tại phiên tòa về việc

5

không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đ không được chấp nhận, lẽ ra phải chịu án phí nhưng do bà thuộc đối tượng là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-PT ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Lê Thị Đ.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày được tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - THADS TPCT;
  • - TAND khu vực 2-Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 2-Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Bảo Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 725/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 725/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger