Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 724/2024/DS-ST

Ngày: 18/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng xây nhà”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1) Bà Trần Thị Nga
  • 2) Bà Nguyễn Thị Nguyên

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 750/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng xây nhà” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 643/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 549/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Quang C, sinh năm: 1984;

    Địa chỉ: số H T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh_có mặt.

  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Phạm Minh S, sinh năm: 1985_vắng mặt;
    • 2.2. Bà Huỳnh Thị M, sinh năm: 1990_văng mặt;

    Cùng địa chỉ đăng ký thường trú: số E tổ C, ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, tổ A, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Quang C trình bày: Do có nhu cầu xây nhà để ở, sau khi thỏa thuận về việc xây dựng nhà với ông Phạm Minh S, ngày 15/11/2021, ông Lê Quang C ký Hợp đồng làm nhà với ông Phạm Minh S với nội dung như sau:

Vị trí xây dựng: Thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết cấu: Nhà 1 trệt - 1 lầu đổ suốt, diện tích: 5,3m x 16,2m = 85,9 m². Tổng giá trị xây dựng là 770.000.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi triệu đồng).

Thanh toán làm 03 đợt: đợt 1 thanh toán 100.000.000 đồng, đợt 2 thanh toán 270.000.000 đồng và đợt 3 thanh toán số tiền còn lại khi nào bên thầu làm xong hết tất cả bao gồm điện và nước.

Thực hiện hợp đồng, ông Lê Quang C đã chuyển tiền cho ông Phạm Minh S 02 lần, cụ thể:

Lần 1: ngày 15/11/2021 theo yêu cầu của ông S, ông C đã chuyển tiền vào tài khoản của vợ ông Phạm Minh S là bà Huỳnh Thị M, Tài khoản số: 939818 Ngân hàng A - Phòng G với số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Lần 2: ngày 22/11/2021, ông C tiếp tục chuyển khoản theo yêu cầu của ông S vào tài khoản của vợ ông S là bà Huỳnh Thị M với số tiền là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).

Tổng cộng ông C đã chuyển cho ông S số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) (có chứng từ của Ngân hàng đính kèm) để ông S thực hiện hợp đồng xây nhà cho ông C.

Trong Hợp đồng xây nhà, ông S cam kết thời hạn xây nhà kể từ ngày nhận thi công đến khi hoàn thành và bàn giao nhà là 60 ngày.

Tuy nhiên, khi đã quá thời hạn cam kết ban đầu là 60 ngày nhưng vẫn không thấy ông S có bất kỳ động thái nào về việc xây nhà cho ông, ông có liên hệ thì phía ông S hứa hẹn và xin gia hạn thêm thời gian. Ông C cũng đồng ý và ghi vào hợp đồng “Nếu sau 10 tháng mà anh S vẫn chưa hoàn thành xây xong căn nhà của tôi thì anh S phải bồi hoàn gấp đôi số tiền tôi đã đưa cọc là: 740.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi triệu đồng)”. Thế nhưng cho đến nay (đã quá thời hạn gia hạn) nhưng phía ông S vẫn không xây nhà cho ông.

Nay ông C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết:

  1. Tuyên hủy Hợp đồng xây nhà được ký ngày 15/11/2021 giữa Lê Quang C với ông Phạm Minh S.
  2. Buộc vợ chồng ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M phải trả lại cho ông số tiền mà vợ chồng ông bà đã nhận của ông là: 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) và phải bồi thường cho ông số tiền tương ứng với số tiền mà vợ chồng ông đã nhận là 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng). Tổng cộng là 740.000.000 đồng (B trăm bốn mươi triệu đồng). Trả một lần ngay khi Quyết định hoặc Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông S, bà M.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Lê Quang C thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng làm nhà ký ngày 15/11/2021 giữa Lê Quang C với ông Phạm Minh S và yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu cụ thể là buộc vợ chồng ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M phải trả lại cho ông số tiền đã nhận là 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) và phải bồi thường cho ông ½ số tiền mà vợ chồng ông đã nhận tương ứng với số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng là 555.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng). Trả một lần ngay khi Quyết định hoặc Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ông C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông S, bà M bồi thường số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng làm nhà ký ngày 15/11/2021 giữa Lê Quang C với ông Phạm Minh S vô hiệu; buộc ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M trả cho ông C số tiền 555.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng). Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông C yêu cầu ông S, bà M bồi thường số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Lê Quang C khởi kiện tranh chấp hợp đồng xây nhà đối với ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện B nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

Bị đơn ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M.

[3] Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2021, thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn để giải quyết vụ án.

[4] Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[4.1] Tòa án tiến hành triệu tập ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nêu trên, tuy nhiên ông S, bà M không đến Tòa để giải quyết vụ án và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ do ông Lê Quang C cung cấp và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

[4.2]. Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng làm nhà ký ngày 15/11/2021 giữa Lê Quang C với ông Phạm Minh S và yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu cụ thể là buộc vợ chồng ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M phải trả lại cho ông số tiền đã nhận là 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) và phải bồi thường cho ông ½ số tiền mà vợ chồng ông đã nhận tương ứng với số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng là 555.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng). Trả một lần ngay khi Quyết định hoặc Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[4.3]. Căn cứ Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S thì ông S có nhận xây trọn gói cho ông C một căn nhà đổ suốt có diện tích: 5,3m x 16,2m = 85,9 m² thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 770.000.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi triệu đồng). Ông C trình bày đã thanh toán cho ông S hai lần thông qua việc chuyển tiền vào số tài khoản của bà Huỳnh Thị M với tổng số tiền 370.000.000 đồng (ngày 15/11/2021 chuyển số tiền 100.000.000 đồng, ngày 22/11/2021 chuyển số tiền 270.000.000 đồng).

Xét Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S, Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.3.1]. Về hình thức: Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S được lập bằng giấy tay.

Tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản".

Tại khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014 quy định:

“Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”.

Như vậy, giao dịch về việc xây nhà giữa ông C và ông S được lập bằng văn bản là tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

[4.3.2]. Về nội dung: Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S thể hiện nội dung ông Lê Quang C thuê ông Phạm Minh S xây một căn nhà có diện tích: 5,3m x 16,2m = 85,9 m² thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 770.000.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông C thừa nhận ông có thuê ông S xây dựng căn nhà có diện tích 85,9 m² trên phần đất thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là đất trồng cây lâu năm, phần đất này ông C mua bằng giấy tay của người khác và hiện tại ông C cũng chưa đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Lời trình bày của ông C hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà ông C đã giao nộp cho Tòa án.

Tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc sử dụng đất:

“Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất”.

Tại điểm d khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

“Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp”.

Tại khoản 3 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 quy định về hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng đất:

“Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích”.

Tại khoản 4 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 quy định hành vi bị nghiêm cấm gồm:

“Xây dựng nhà ở trên đất không phải là đất ở; xây dựng không đúng tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích đối với từng loại nhà ở mà Nhà nước có quy định về tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích nhà ở. Áp dụng cách tính sai diện tích sử dụng nhà ở đã được luật quy định trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở”.

Tại khoản 4 Điều 12 Luật Xây dựng năm 2014 quy định hành vi bị nghiêm cấm gồm:

“Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp”.

Tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”

Tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”.

Từ những viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung giao dịch giữa ông C và ông M về việc xây dựng nhà trên phần đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là vi phạm điều cấm của luật và đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được nên vô hiệu theo quy định tại Điều 123, Điều 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tuyên Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S vô hiệu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.4]. Về giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu:

Tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, Luật khác có liên quan quy định”.

Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn ông Lê Quang C, kết quả sao kê tài khoản của ông Lê Quang C và kết quả xác minh tài khoản của bà Huỳnh Thị M tại Ngân hàng TMCP A (A) và lời khai của ông Phạm Minh S tại Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận có ký hợp đồng với nội dung như ông C trình bày và có nhận của ông C số tiền nêu trên nhưng chưa xây dựng nhà cho ông C theo thỏa thuận vì không xin được giấy phép xây dựng nên có cơ sở xác định ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M có nhận của ông Lê Quang C tổng số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản, ông C đã chuyển tiền vào tài khoản của bà Huỳnh Thị M hai lần vào ngày 15/11/2021 với số tiền 100.000.000 đồng và ngày 22/11/2021 với số tiền 270.000.000 đồng để xây căn nhà có diện tích 85,9 m² thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà M mặc dù không tham gia ký kết hợp đồng làm nhà ngày 15/11/2021 nhưng bà M biết rõ ông C chuyển tiền cho bà M để ông S thực hiện xây nhà cho ông C. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà M đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà M đều vắng mặt và cũng không có bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào gửi cho Tòa án nên bà M phải chịu hậu quá theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, ông C yêu cầu ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M trả lại số tiền đã nhận là 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) do Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ Hợp đồng làm nhà lập ngày 15/11/2021 giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S thì ông S cam kết xây trọn gói và bàn giao nhà cho ông C trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Tuy nhiên, quá thời hạn trên nhưng ông S vẫn không thực hiện nên ông S và ông C thỏa thuận lại nếu trong vòng 10 tháng mà phía ông S vẫn chưa xây xong căn nhà thì ông S phải bồi hoàn gấp đôi số tiền đã nhận. Hội đồng xét xử xét thấy tại thời điểm giao dịch cả ông S và ông C đều biết rõ đây là đất nông nghiệp không được phép xây dựng nhà ở trên đất nhưng vẫn ký kết hợp đồng làm nhà nên cả ông C và ông S đều có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Do hai bên đều có lỗi tương đương nhau làm cho hợp đồng vô hiệu nên mỗi bên chịu trách nhiệm ½ giá trị thiệt hại. Do đó, ông C yêu cầu ông S, bà M bồi thường số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng) tương ứng ½ số tiền bồi thường mà hai bên đã thỏa thuận là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa, ông C xác định chỉ yêu cầu ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M bồi thường số tiền 185.000.000 đồng tương ứng ½ số tiền phải bồi thường, ông C xin rút lại yêu cầu ông S, bà M bồi thường số tiền 185.000.000 đồng còn lại. Việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[6] Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 132, Điều 357, Điều 407, Điều 408, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6, Điều 12, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014;

Căn cứ Điều 12, Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang C:
    • 1.1. Tuyên bố hợp đồng làm nhà ngày 15/11/2021 ký giữa ông Lê Quang C và ông Phạm Minh S về việc xây dựng căn nhà có diện tích 85,9 m² (5,3m x 16,2m) thuộc một phần thửa 515, tờ bản đồ số 71 xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
    • 1.2. Buộc ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M có nghĩa vụ trả cho ông Lê Quang C số tiền 555.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng).
  2. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M trả 185.000.000 đồng tiền bồi thường.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Phạm Minh S, bà Huỳnh Thị M phải chịu 26.200.000 đồng (Hai mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho ông Lê Quang C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.100.000 đồng (Mười bảy triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0020942 ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích cho đương sự (người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự) biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự).

- Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 724/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng xây nhà

  • Số bản án: 724/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây nhà
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger