Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 724/2024/HSPT
Ngày 09 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông

Ông Phạm Văn Tuyển

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị L, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 816/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Trương Công N, Hà Văn M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Trương Công N, sinh năm 1987; tại: C, C, Thanh Hóa. Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công S (đã chết) và bà Bùi Thị B; Vợ Phạm Thị D; Có 2 con, lớn sinh 2012, nhỏ sinh năm 2014;Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/4/2023 và đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Trương Công N: Luật sư Nguyễn Thị H, Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

  1. Hà Văn M, sinh năm 1992 tại: xã C, huyện C, Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N1 và bà Nguyễn Thị P; Vợ Đỗ Thị T; Có 03 con, lớn nhất sinh 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/4/2023, chuyển tạm giam ngày 01/5/2023; ngày 30/6/2023, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra còn có các bị cáo khác và người bị hại do không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 21/4/2023, Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1 đến nhà anh Hà Ngọc T1 ở cùng thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 22h thì ba người rủ nhau đến quán Karaoke Khánh D1 đi hát. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày hát xong, T1 và L1 ra ngoài trước thì đi đến bàn đang uống bia của Hà Văn M, Trương Công N, Trương Công D2 và Bùi Văn K cùng trú tại thôn T, xã C, huyện C ngồi chơi. Lúc này, T1 lấy thuốc lá trên bàn và hút; thấy vậy, Hà Văn M đã chỉ trích T1 về việc tự ý lấy thuốc lá hút nên hai bên có lời qua tiếng lại. Cùng lúc, Đ từ trong phòng hát đi ra, nhìn thấy T1 và M lời qua tiếng lại, cãi nhau nên đi lại kéo T1 đứng dậy đi về. Khi T1 đứng lên đi vào quầy thanh toán, thì M đứng dậy ra khỏi bàn và gọi Đ nói chuyện. M và Đ có lời qua tiếng lại và dùng tay xô đẩy, đồng thời M dùng tay đấm vào mặt Đ. Bị đánh, Đ cũng dùng tay không đánh lại M. Lúc này Trương Công N cầm chiếc cốc uống bia lao vào cùng với M lùa đuổi tấn công Đức. Bị nhiều người đánh, Đ nhặt chiếc ghế nhựa ở sân lên đánh lại M và N.

Cùng lúc đó Bùi Văn K cầm chai nước khoáng và Trương Công D2 cầm chiếc điếu cày đánh Lê Ngọc L1. Khi nhìn thấy M, N và Đ đang lùa đuổi đánh nhau, K cầm một chai nước khoáng lao đến đánh Đ và đẩy lùi Đ về phía góc sân bên trái gần cổng vào, thì N cầm chiếc cốc thủy tinh đập 01 phát trúng vào đầu Đ, Đ giơ tay lên ôm đầu.

Tại khu vực gần quầy thanh toán, khi bị D2 đánh, L1 dùng tay đánh đấm lại và quật ngã D2 xuống đất làm cho chiếc điếu cày Dương cầm trên tay văng xuống nền sân bê tông, L1 dùng tay đánh liên tục vào người D2.

Trong lúc nhóm M, N, K đang lùa đuổi đánh Đ, thì Hà Ngọc T1 từ trong quầy thanh toán chạy ra bàn uống bia lấy một cốc bia trên bàn và chạy về phía mọi người đang lùa đuổi đánh Đ ở góc sân bên trái. T1 vung cốc đập về phía Mùi khi M đang cúi người nhặt chiếc điếu cày, ngay lập tức Trương Công N tay đang cầm cốc bia (cốc thủy tinh) đập 01 (một) cái trúng vào đầu (vùng trán) của Hà Ngọc T1 làm cho T1 ngã xuống nền sân bê tông, đồng thời Hà Văn M cúi nhặt lên được chiếc điếu cày thì vung tay “đập với” về phía T1 đang nằm trúng vào vùng bụng (thượng vị) của T1. Bị đánh T1 nằm dưới nền sân bê tông và ôm đầu, còn những người khác vẫn lao vào nhau đánh lộn xộn. Trong lúc K lùa đánh nhau với Đ thì L1 lao đến dùng tay, chân đánh đấm và quật ngã K, sau đó L1 chạy về phía N dùng tay đấm và quật ngã N xuống nền sân 02 lần. Đồng thời, Đ một tay ôm đầu, một tay cầm ghế nhựa lao đến đập 02 phát về phía Nam đang nằm dưới sân. Cùng lúc, Dương cầm điếu cày lao đến đập vào người Đ làm văng điếu xuống đất, sau đó cả hai xô đẩy di chuyển gần về phía quầy thanh toán. Tại khu vực quầy thanh toán, D2 nhặt một chiếc mặt nạ nhựa màu đen (mặt nạ hàn xì) đập 03 phát về phía Đ (tay Đ đang ôm đầu), thì L1 lao đến can ngăn ôm đẩy D2 ra. Ngay lập tức N lao đến thì bị L1 đấm vào mặt và ôm quật ngã, tiếp đó Đ lao đến cùng với L1 dùng tay, chân đánh đấm N. Sau đó thì các bên dừng xô xát đánh nhau và chỉ lời qua tiếng lại, đồng thời chị D1, anh Trương Văn K1 là chủ quán can ngăn nên hai bên dừng lại và ra về. Lúc này, Đ đi xe môtô chở Hà Ngọc T1 đi về, trên đường về Đ gặp bố là ông Mai Xuân K2 đang đi tìm nên Đ đưa xe môtô để T1 tự mình ra về, còn ông K2 đi xe chở Đ đưa đi trạm y tế xã C để băng bó vết thương, Hà Văn M cũng tự đến trạm y tế xã C để sơ cứu. Trên đường về, khi đến đoạn đường thuộc thôn P, xã C, huyện C thì Hà Ngọc T1 bị choáng váng đầu nên ngã bên lề đường và nằm bất tỉnh. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/4/2023, người dân phát hiện Hà Ngọc T1 nằm bất tỉnh, nên đã đưa đến Trạm y tế xã C, huyện C để cấp cứu. Do bị thương tích nặng, Hà Ngọc T1 được gia đình đưa xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh T để cấp cứu và điều trị.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác.

* Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ xô xát đánh nhau được xác định là khu vực khoảng sân giữa của quán K3 - rượu bia - nước giải khát K, thuộc thôn T, xã C, huyện C. Quán K3 có một cổng vào ở phía Bắc được làm bằng hai cánh cửa sắt mở vào trong. Sau cửa cổng vào là khoảng sân rộng ở giữa khu vực quán; sân được đổ nền bê tông bằng phẳng. Bên phải theo hướng cổng vào là nhà kho, có một gian để đồ, một gian để xe; tiếp nối phía trong là ngôi nhà hai tầng. Bên trái theo hướng vào là một nhà kho để đồ và một gian bán hàng tạp hóa. Phía Đông khu vực sân có 02 phòng liền kề nhau, một phòng hát karaoke, một phòng để ở; tiếp giáp phía trong cùng là nhà vệ sinh.

Tại khu vực sân ngay trước dãy phòng hát và phòng ở phía Đông có kê hai bộ bàn ghế (bàn inox, ghế nhựa màu đỏ). Kiểm tra khu vực sân phát hiện:

  • Có 03 đám vết màu nâu đỏ dạng máu đã được lau chùi tại các hướng Đông, Đ, Đ;
  • Phía góc tường Tây Nam của khu nhà bán hàng tạp hóa phát hiện các đồ vật: 01 (một) mặt bàn inox; 01 (một) điếu cày, 01 (một) mặt nạ cầm tay nhựa màu đen; 02 (hai) ghế nhựa và 01 (một) túi nilon bên trong chứa các mảnh vỡ thủy tinh của cốc thủy tinh và vỏ chai bia màu xanh.
  • Ở vị trí phía trên sát lề tường phía Tây của dãy phòng ngang có lắp đặt 01 camera giám sát, mắt cam hướng ra khu vực sân và cổng; Ở vị trí phía trên sát lề tường phía Đông của nhà hai tầng có lắp đặt 01 camera giám sát, mắt cam hướng vào khu vực sân bên trong.

Khám nghiệm tại nơi phát hiện nạn nhân Hà Văn T2, thấy: Vết rập, gãy cây cỏ dại bên lề đường; không có vết cà trượt. Kiểm tra phương tiện là chiếc xe môtô biển kiểm soát 36P6-8499 mà Hà Ngọc T1 sử dụng để đi lại vào tối ngày 21/4/2023 rạng sáng ngày 22/4/2023 không phát hiện dấu vết cà trượt, móp méo, không phát hiện dấu vết nào mới trên xe.

* Xem xét dấu vết trên thân thể của các đối tượng liên quan:

  • Đối với Hà Ngọc T1: Có 02 vết thương, gồm: 01 vết sưng nề vùng trán đỉnh phải; 01 vết bầm tím vùng thượng vị.
  • Đối với Mai Xuân Đ: Có 04 vết thương, gồm: 01 vết rách da vùng trán trái, kích thước 2cmx1cm; 01 vết rách da vùng trán phải, kích thước 4cmx0,1cm; 01 vết sưng nề bầm tím tại mắt phải; 01 vết sưng bầm vùng sống mũi.
  • Đối với Lê Ngọc L1: Kiểm tra trên thân thể không phát hiện có dấu vết tổn thương. L1 đề nghị không giám định thương tích.
  • Đối với Hà Văn M: Có 01 vết thương rách da tại thái dương đỉnh trái, kích thước 5cmx0,5cm, đã được khâu y tế.
  • Đối với Bùi Văn K: Có 03 vết thương, gồm: 01 vết rách da tại vị trí thái dương phải, kích thước 1cmx1cm; 01 vết xây xước da tại vị trí gò má phải, kích thước 5cmx5cm; 01 vết rách da phía sau tai phải, kích thước 3cmx1cm.
  • Đối với Trương Công N: Có 05 vết thương, gồm: 01 vết sưng phù nề tại má phải, kích thước 7cmx5cm; 01 vết xây xước da tại đuôi mắt phải, kích thước 2,2cmx1cm; 01 vết xây xước da tại phía trên cung lông mày phải, kích thước 2,5cmx1cm; 01 vết xây xước da vùng trán phải, kích thước 2cmx1,7cm; 01 vết xây xước da không liên tục tại giữa trán, kích thước 4cmx0,5cm.
  • Đối với Trương Công D2: Có 01 vết sưng nề, bầm tím tại vùng mắt phải. Vết thương nhẹ và tự khỏi, không để lại sẹo di chứng gì, nên D2 đề nghị không giám định thương tích.

* Kết quả trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

* Kết quả trưng cầu giám định:

  • Ngày 09/6/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận số 772/KLTTCT-PYTH kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Hà Ngọc T1 là 81% (T3 mươi mốt phần trăm).
  • Ngày 03/7/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận số 922/KLTTCT-PYTH kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Mai Xuân Đ là 11% (Mười một phần trăm).
  • Ngày 05/7/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận số 924/KLTTCT-PYTH kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Hà Văn M là 02% (Hai phần trăm).
  • Ngày 05/7/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận số 928/KLTTCT-PYTH kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Bùi Văn K là 03% (Ba phần trăm).
  • Ngày 05/7/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận số 926/KLTTCT-PYTH kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Trương Công N là 04% (Bốn phần trăm).
  • Theo kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số: 2193/KLVGTT-PYTH ngày 04/01/2024 của trung tâm P1 kết luận: Đối với các thương tích trên thân thể Hà Ngọc T1 được ghi nhận trong các tài liệu, hồ sơ giám định do cơ quan trưng cầu cung cấp: Nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể gây nên hậu quả chết người ./.

Đối với Mai Xuân Đ có hành vi cùng nhóm bạn dùng tay, ghế nhựa gây thương tích cho Hà Văn M 02%, Bùi Văn K 03%, Trương Công N 04%. Mùi và K không có yêu cầu đề nghị xử lý hình sự, N có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Mai Xuân Đ.

Đối với Lê Ngọc L1 có hành vi cùng nhóm bạn dùng tay, ghế nhựa gây thương tích cho Bùi Văn K 03%, Trương Công N 04%, Trương Công D2 (thương tích nhẹ, không giám định). Khuyến không có yêu cầu đề nghị xử lý hình sự, N có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Ngọc L1.

Đối với hành vi của Hà Ngọc T1 (bị hại trong vụ án giết người): Quá trình xô xát đánh nhau, T1 có hành vi cầm cốc thủy tinh đánh gây thương tích cho Hà Văn M 02%. Mùi không có yêu cầu đề nghị xử lý hình sự. Do đó không xem xét xử lý hình sự đối với T1, mà xử lý hành vi vi phạm hành chính đối với T1, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tách tài liệu và chuyển cho Công an huyện C xử lý theo quy định của Pháp luật.

Hà Văn M còn có hành vi dùng điếu cày đập vào người T1 (vùng bụng) gây tổn hại sức khỏe 02%. M đánh T1 trong lúc lộn xộn, trời tối, diễn ra nhanh; M không biết rõ T1 bị ai đánh, đánh như thế nào, có nghiêm trọng không. Anh Hà Ngọc T1 không có có yêu cầu xử lý hình sự đối với M về hành vi này.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điếu cày, 01 (một) mặt nạ cầm tay, 02 (hai) ghế nhựa và 01 (một) túi nilon bên trong chứa các mảnh vỡ thủy tinh do các cốc uống bia và chai bia bị vỡ. Số vật chứng này được chuyển đến Cục THADS tỉnh T chờ xét xử.

*Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Hà Văn M hỗ trợ dân sự cho anh Hà Ngọc T1 với số tiền là 150.000.000đ, gia đình Trương Công N hỗ trợ tiền thuốc cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 35.000.000đ, Bùi Văn K hỗ trợ Trương Công N bồi thường cho anh T1 số tiền 15 triệu đồng (K không yêu cầu N phải hoàn trả số tiền trên). Anh T1 yêu cầu đề nghị Trương Công N phải bồi thường thêm số tiền là 150.000.000đ. Đối với Mai Xuân Đ bị Hà Văn M, Trương Công N, Bùi Văn K, Trương Công D2 gây thương tích, Trương Công N bị Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1 gây thương tích. Hiện các bên đã thống nhất thỏa thuận bồi hoàn dân sự Mai Xuân Đ có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Hà Văn M, Trương Công N, Bùi Văn K, Trương Công D2.

Tại Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS-P2 ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Trương Công N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS, tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS. Hà Văn M, Bùi Văn K, Trương Công D2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 23/5/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, Trương Công N có đề nghị xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố: Trương Công N phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự, tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Hà Văn M, Bùi Văn K, Trương Công D2 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự;

Căn cứ:

- Khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Trương Công N:

+ Tội “Giết người” 10 (mười) năm tù.

+ Tội “Cố ý gây thương tích” 02 (hai) năm tù.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2023.

- Điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

* Xử phạt: H1 (hai tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2023 đến 30/6/2023).

- Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt:

+ Bùi Văn K 24 (hai tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Trương Công D2: 24 (hai tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn K, Trương Công D2 cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 591 Bộ luật dân sự:

- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc bồi thường cho Mai Xuân Đ, Trương Công N.

- Buộc Trương Công N phải bồi thường tiếp cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 143.088.500 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu, không trăm tám tám nghìn năm trăm đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo:

Ngày 17/6/2024, bị cáo Hà Văn M kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt;

Ngày 20/6/2024, bị cáo Trương Công N kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và giảm nhẹ trách nhiệm bồi thường cho bị cáo;

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

4.1. Bị cáo Hà Văn M xin rút yêu cầu kháng cáo; bị cáo Trương Công N vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

4.3. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Tòa án xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn M xin rút yêu cầu kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hà Văn M. Kháng cáo của bị cáo Trương Công N là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công N và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

4.4. Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa hôm nay gia đình bị cáo xuất trình thêm giấy chứng nhận bà Bùi Thị B (mẹ bị cáo N) là thanh niên xung phong, Quyết định của Chỉ huy trưởng trung tâm D3 công nhận ông Trương Công S (bố bị cáo) là Đảng viên, Đại đội phó Đại đội 17 Tiểu đoàn 5 và Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa thể hiện vợ bị cáo đã nộp thay bị cáo 10.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại Hà Ngọc T1, nên đề nghị Hồi đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; bị hại không phải thợ xây và bị hại không giải trình đầy đủ, rõ ràng số tiền điều trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận mức yêu cầu bồi thường của bị hại là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm mức bồi thường cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/6/2024, bị cáo Hà Văn M có đơn kháng cáo và ngày 20/6/2024, bị cáo Trương Công N có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công N và bị cáo Hà Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 21/4/2023, tại quán K3 (thuộc xã C, huyện C), xuất phát từ việc anh Hà Ngọc T1 tự tiện đến lấy thuốc lá trên bàn uống bia của nhóm Hà Văn M, Trương Công N, Trương Công D2, Bùi Văn K để hút, dẫn tới nhóm Hà Văn M, Trương Công N, Trương Công D2, Bùi Văn K xô xát với nhóm Hà Ngọc T1, Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1.Quá trình xô xát đánh nhau, các đối tượng của hai bên cầm cốc, vỏ chai, điếu cày, mặt nạ nhựa xông vào hỗn chiến lùa đuổi đánh nhau. Trong đó Trương Công N đã dùng cốc thủy tinh đập vào đầu Hà Ngọc T1 gây chấn thương sọ não, qua giám định tổn hại sức khỏe 79%. Hà Văn M dùng điếu cày đập 01 phát vào vùng bụng anh Hà Ngọc T1 khi anh T1 đang nằm ngã dưới đất gây tổn hại sức khỏe 2%. Ngoài ra, Trương Công N, Hà Văn M, Bùi Văn K, Trương Công D2 còn dùng tay, chân, điếu cày, mặt nạ nhựa, cốc thủy tinh đánh gây thương tích cho Mai Xuân Đ mất 11% sức khỏe. Mai Xuân Đ, Lê Ngọc L1 dùng ghế nhựa, tay, chân đánh gây thương tích cho Trương Công N qua giám định tổn hại 4% sức khỏe.

Bị cáo Trương Công N, Hà Văn M đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, chỉ vì hành vi ứng xử giữa các bị cáo và người bị hại không thiện chí dẫn đến mâu thuẫn, xô xát. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, cụ thể: Trương Công N dùng cốc thủy tinh đập vào đầu anh T1 gây chấn thương sọ não, tổn hại sức khỏe 79%. Mặc dù anh T1 không chết, nhưng với cơ chế gây thương tích ở vùng đầu, vùng trọng yếu nếu anh T1 không được cấp cứu kịp thời thì có thể gây nên hậu quả chết người. Trương Công N, Hà Văn M, Bùi Văn K, Trương Công D2 dùng tay, chân, điếu cày, mặt nạ nhựa, cốc thủy tinh đánh gây thương tích cho Mai Xuân Đ tổn hại sức khỏe 11%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Công N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự; và Trương Công N, Hà Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn M xin rút yêu cầu kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Xét thấy, bị cáo Hà Văn M xin rút yêu cầu kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Công N thì thấy:

[4.1] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo thành khẩn khai báo, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; song bị cáo phạm hai tội, trong đó có tội rất nghiêm trọng nên để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đã xử phạt bị cáo Trương Công N 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình thêm giấy chứng nhận bà Bùi Thị B (mẹ bị cáo N) là thanh niên xung phong, Quyết định của Chỉ huy trưởng trung tâm D3 công nhận ông Trương Công S (bố bị cáo) là Đảng viên, Đại đội phó Đại đội 17 Tiểu đoàn 5 và Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa thể hiện vợ bị cáo đã nộp thay bị cáo 10.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại Hà Ngọc T1. Xét thấy, những tình tiết này là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng; tuy bị hại không chết mà bị thiệt hại 79% sức khỏe, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự là thiếu sót, nhưng mức hình phạt Tòa án sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.

[4.2] Về vấn đề bồi thường của bị cáo đối với anh Hà Ngọc T1 thì thấy:Anh T1 bị bị cáo đập cốc thủy tinh vào đầu gây chấn thương sọ não, thương tích 79%. Bị cáo đã tác động gia đình và được Bùi Văn K hỗ trợ bồi thường cho anh T1 tổng số tiền là 50 triệu đồng; anh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 150 triệu đồng; Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị hại không phải thợ xây và bị hại không giải trình đầy đủ, rõ ràng số tiền điều trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận mức yêu cầu bồi thường của bị hại là không đúng và xuất trình Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa thể hiện vợ bị cáo đã nộp thay bị cáo 10.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại Hà Ngọc T1 để đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức bồi thường cho bị cáo. Xét thấy, tuy anh Hà Ngọc T1 không phải là thợ xây nhưng mức 300.000 đồng/ngày công lao động của người lao động phù hợp với thực tế hiện nay và số tiền điều trị bị hại kê khai phù hợp với thực tế điều trị, tương xứng với mức độ thiệt hại 79% sức khỏe của bị hại Hà Ngọc T1 nên trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do anh Hà Ngọc T1 cung cấp, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo có trách nhiệm bồi thường phần thương tích 79%, tương ứng với toàn bộ chi phí 193.088.500 đồng cho anh Hà Ngọc T1. Do bị cáo đã bồi thường cho anh T1 50 triệu đồng, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 143.088.500 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu, không trăm tám tám nghìn năm trăm đồng) là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về vấn đề này. Do chị Phạm Thị D (vợ bị cáo) đã nộp thêm 10.000.000 đồng bồi thường cho anh Hà Ngọc T1 thay cho bị cáo tại Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa nên được đối trừ vào số tiền bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Hà Ngọc T1 là 133.088.500 đồng (một trăm ba mươi ba triệu, không trăm tám mươi tám nghìn năm trăm đồng).

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trương Công N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Hà Văn M rút kháng cáo tại phiên tòa nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ Điều 348; Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hà Văn M; Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Văn M có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự của bị cáo Trương Công N; cụ thể:
    • Căn cứ khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 57, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trương Công N: 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”; 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2023.
    • Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 591 Bộ luật Dân sự:
      • Buộc Trương Công N phải bồi thường tiếp cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 143.088.500 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu, không trăm tám tám nghìn năm trăm đồng).
      • Ghi nhận gia đình bị cáo Trương Công N đã bồi thường cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 10.000.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho anh Hà Ngọc T1 số tiền 133.088.500 đồng (một trăm ba mươi ba triệu, không trăm tám mươi tám nghìn năm trăm đồng).
      • Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
      • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trương Công N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Hà Văn M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Phan Nam
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- Công an tỉnh Thanh Hóa;
- Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
- Các Bị cáo;
- Người bào chữa cho các bị cáo;
- Lưu HCTP, Hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 724/2024/HSPT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 724/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger