Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 724/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã

Thẩm phán:Ông Trần Đức Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Tống Thị Thanh Lam

Ông Nguyễn Vũ Lâm

Bà Trần Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 507/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 739/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Đặng Thanh T, sinh năm 1984; giới tính: nữ; ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện G, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: P2419 Tòa S1.02 Vinhomes O, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P và bà Đàm Thị H; có chồng và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay (Trại tạm giam số 1); có mặt.

Người bào chữa: Luật sư Trần Ngọc T1 thuộc Văn phòng L4; có mặt.

Bị hại:

  1. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  2. Chị Lã Thị H1, sinh năm 1995; nơi cư trú: số H tổ B P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  3. Ông Vũ Đình C, sinh năm 1965; nơi cư trú: số F đường C, tổ C phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  4. Anh Ngô Minh Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: P.716 H chung cư H, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  5. Chị Trần Thị Kim T3, sinh năm 1985; nơi cư trú: số D D phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; có mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn G, xã L, huyện G, Thành phố Hà Nội; có mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn C, xã K, huyện G, Thành phố Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1981; ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện G, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: xóm C, thôn N, xã Đ, huyện G; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 7/2022, Trần Đặng Thanh T đưa ra thông tin gian dối với đối với nhiều người về việc T là nhân viên môi giới bất động sản, có một số mối quan hệ ngoại giao với các chủ đầu tư của dự án Vinhomes Ocean Park 2 thuộc V, Hưng Yên, giới thiệu họ có các căn hộ ngoại giao vị trí đẹp, giá rẻ dành cho các cá nhân thuộc Tập đoàn V cần đầu tư góp vốn dưới hình thức “lấp căn” tại dự án T để hưởng lợi nhuận. T giải thích hình thức “lấp căn” như sau: Những người có nhu cầu mua căn hộ ngoại giao trên nhưng chưa đủ tiền đặt cọc nên cần người đóng tiền để đặt cọc trước, trong thời hạn 10 - 12 ngày, khi những người mua này đến ký hợp đồng mua bán căn hộ thì sẽ phải trả cả gốc và lợi nhuận khoảng 20%/số tiền góp vốn hoặc mức lợi nhuận 200 - 300 triệu đồng/1 tỷ đồng. Tin tưởng thông tin T đưa ra là thật nên nhiều bị hại đã chuyển tiền cho Trần Đặng Thanh T tổng số tiền 38.900.000.000 đồng thông qua chuyển khoản đến tài khoản Ngân hàng T9 số 19037805989019 mang tên Trần Đặng Thanh T. Sau khi nhận số tiền trên của các bị hại, để tạo niềm tin cho những người này tiếp tục chuyển tiền, T chuyển lại cho họ được số tiền 23.514.000.000 đồng gọi là tiền gốc và lợi nhuận, số tiền còn lại 15.386.000.000 đồng bị T chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Cụ thể:

  1. Hành vi chiếm đoạt 2.354.000.000 đồng của chị Trần T5; 2.230.000.000 đồng chị Lã Thị H1; số tiền 7.326.000.000 đồng của ông Vũ Đình C.

Khoảng đầu năm 2022, chị Trần Thị T2, chị Lã Thị H1 và ông Vũ Đình C quen biết Trần Đặng Thanh T. Quá trình quen biết, T giới thiệu bản thân là nhân viên môi giới bất động sản tại dự án Vinhomes O, có mối quan hệ với chủ đầu tư của dự án nên có thể kết nối giữa người có nhu cầu mua căn hộ và các chủ sở hữu của căn hộ nhưng do người mua chưa có đủ tiền để thanh toán nên cần người tham gia góp tiền ứng ra trước để đặt cọc giúp người mua (hình thức “lấp căn”), đến ngày ký hợp đồng mua bán, người mua sẽ phải thanh toán lại phần tiền đã được đặt cọc hộ trước đó, kèm theo lợi nhuận đã thỏa thuận là khoảng 20%/số tiền đặt cọc trong thời gian từ 10-12 ngày (tương đương góp 01 tỷ đồng/căn thì lợi nhuận từ 200 triệu đến 300 triệu). T rủ chị T2 và chị H1, chị T2 rủ ông C tham gia góp vốn đầu tư. Tin tưởng thông tin T đưa ra là thật, từ ngày 11/5/2022 đến ngày 20/6/2022, chị T2, chị H1, ông C đã tham gia góp tiền để đầu tư như trên. Để tạo niềm tin hơn nữa, T đã nhiều lần chuyển lại cho chị T2 tiền lợi nhuận, chị T2 chuyển lại cho chị H1, ông T theo số tiền góp vốn đã thỏa thuận. Quá trình chị T2, chị H1, ông C làm việc với T, ngày 21/5/2022, T yêu cầu chỉ nhận tiền đầu tư qua một đầu mối nên cả nhóm thống nhất chị T2 đứng ra giao dịch với T, T thông báo giá trị suất mua căn hộ cho chị T2, chị T2 thông báo lại cho chị H1 và ông C để chị H1, ông C góp tiền thì chuyển cho chị T2 để chuyển cho T từ tài khoản Ngân hàng M số 8828686868688 của chị T2 đến tài khoản của T ở trên. Từ ngày 13/5/2022 đến ngày 20/6/2022, tổng số tiền chị T2, ông C, chị H1 góp tiền, sau đó chị T2 chuyển khoản cho T là 25.480.000.000 đồng (không có tiền mã 11) để đầu tư “lấp căn” các mã căn hộ. Cụ thể:

  • Mã 1: Từ ngày 14/5/2022 đến ngày 16/5/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung là “lấp căn C34 sếp H2”, trong đó ông C góp 900.000.000 đồng, chị T2 góp 100.000.000 đồng để đặt cọc suất mua căn ngoại giao mã số C34 của “sếp H2” (không có nhân thân cụ thể).
  • Mã 2: Ngày 20/5/2022, chị T2 chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, ghi nội dung là “lấp căn SH C34 sếp H2”, toàn bộ số tiền này là của chị H1 - để đặt cọc 02-03 suất mua căn ngoại giao mã số C34 của “sếp H2”.
  • Mã 3: Ngày 23/5/2022, chị T2 chuyển cho T tổng số tiền 480.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản là “Lấp C34 cùng H3 1 căn” toàn bộ số tiền này là của chị H1 để đặt cọc suất mua căn ngoại giao mã số C34 của “sếp H2".
  • Mã 4: Ngày 25/5/2022, chị T2 chuyển cho T tổng số tiền 2.800.000.0000 đồng, trong đó ông C góp 1.000.000.000 đồng, chị T2 góp 1.000.000.000 đồng, chị H1 góp 800.000.000đồng, nội dung chuyển khoản là “Lấp căn C34 sếp Lực” - để đặt cọc 3-4 căn ngoại giao của “sếp L” (không có nhân thân cụ thể). Trong đó, số tiền 800 triệu đồng của chị H1 là do T nói với chị T2 đang đến kỳ phải thanh toán tiền cho chị H1 nhưng chưa có tiền nên bảo chị T2 chuyển khoản cho chị H1 800.000.000 đồng, sẽ tính vào tiền đầu tư của mã này. Chị T2 và ông C mỗi người góp 400.000.000 đồng để chị T2 chuyển khoản cho chị H1.
  • Mã 5: Từ ngày 26/5/2022 đến ngày 28/5/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 4.000.000.000 đồng, nội dung “Lấp lốc 18 căn đại lộ san hô 51m sếp Linh C1”, trong đó anh C góp 2.100.000.000 đồng, chị H1 góp 1.000.000.000 đồng, chị T2 góp 900.000.000 đồng để đặt cọc 18 căn ngoại giao ở Đ diện tích 51m2 của “sếp L1”.
  • Mã 6: Ngày 30/5/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung là “Lấp lốc 3 căn Hòa C01” trong đó ông C góp 600.000.000 đồng, chị T2 góp 400.000.000 đồng để đặt cọc 03 căn ngoại giao của “sếp H4”.
  • Mã 7: Từ ngày 01/6 đến ngày 03/6/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 4.000.000.000 đồng, nội dung “Lấp lốc 9 căn đại lộ san hô 51m SH sếp Linh C1”, trong đó ông C góp 3.000.000.000 đồng, chị H1 góp 1.000.000.000 đồng để đặt cọc 09 căn ngoại giao của “sếp L1”.
  • Mã 8: Từ ngày 7/6/2022 đến ngày 8/6/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 5.500.000.000 đồng, nội dung “Lấp lốc 16 căn sếp Linh C1”, trong đó ông C góp 2.000.000.000 đồng, chị H1 góp 1.000.000.000 đồng, của chị T2 là 2.500.000.000 đồng để đặt cọc 16 căn ngoại giao diện tích 51m2 tại Đại lộ San hô của “sếp L1”.
  • Mã 9: Ngày 10/6/2022, chị T2 đã chuyển cho T tổng số tiền 1.500.000.000 đồng, nội dung “Lấp lốc 16 căn sếp Linh C1” và “Lấp lốc 3 căn sếp Hương Cl”ông C góp 1.400.000.000 đồng, chị T2 góp 100.000.000 đồng để đặt cọc căn ngoại giao của “sếp L1” và “sếp H3”.
  • Mã 10: Ngày 11/6/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung “Lấp lốc 3 căn sếp Hương C01”, toàn bộ số tiền này là của ông C để đặt cọc 05 căn ngoại giao của “sếp H3” và “sếp H5".
  • Mã 11: Ngày 12/6/2022, T báo chị T2 có 02 căn ngoại giao của “sếp H5” nhưng đối với mã này, chị T2 không chuyển tiền cho T mà thỏa thuận trừ vào tiền gốc T nợ chị T2 để tiếp tục đầu tư.
  • Mã 12: Từ ngày 15/6/2022 đến ngày 17/6/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 2.700.000.000 đồng, nội dung “lấp lốc 16 căn 2-4 sếp Linh C1”, trong đó ông C góp 1.400.000.000 đồng, chị T2 góp 1.300.000.000 đồng, để đặt cọc 16 căn mã C1 của “sếp L1”.
  • Mã 13: Ngày 20/6/2022, chị T2 đã chuyển khoản cho T 500.000.000 đồng là tiền của chị T2, nội dung ghi “ghép căn C34 Hương Hà lấp cùng” để đặt cọc căn ngoại giao mã C34 và đang có người tham gia lấp căn tên là H3 và H6.

* Ngoài ra, từ ngày 11/5/2022 đến ngày 16/6/2022, chị Lã Thị H1 đầu tư riêng, chuyển cho Trần Đặng Thanh T nhiều lần tổng số tiền 4.350.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng M số 9000188288888 mang tên Lã Thị H1 đến tài khoản ngân hàng của T để đầu tư “lấp căn” các căn hộ theo như các thông tin T đưa ra, cụ thể:

  • Từ ngày 11/5/2022 đến ngày 13/5/2022, chị H1 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 2.600.000.000 đồng để đầu tư Căn hộ mã C34 của “sếp C1” và “sếp H2” (không có nhân thân cụ thể), trong đó: Ngày 11/5/2022 và ngày 12/5/2022, chị H1 chuyển số tiền 600.000.000 đồng, nội dung ghi: “Lấp căn Hương Hà P1 C34 căn sếp Chính”; ngày 12/5/2022, chị H1 chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung ghi: “Lấp căn H sếp Hùng C34 3 căn”; Ngày 13/5/2022, chị H1 chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung ghi: “Lấp căn H sếp Hùng C34 3 căn”.
  • Ngày 06/6/2022, chị H1 chuyển cho T số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung ghi “Lốc căn 5 của anh H7 C34” để đặt cọc 05 căn ngoại giao của “sếp H7”.
  • Từ ngày 15/6 đến ngày 16/6/2022, chị H1 chuyển cho T tổng số tiền 750.000.000 đồng, nội dung ghi “Lốc căn 2 sếp Linh C1” để đặt cọc 02 căn ngoại giao của “sếp L1” (không có nhân thân cụ thể).

Trong quá trình chị T2, chị H1 và ông C tham gia đầu tư theo yêu cầu của T, để tạo niềm tin hơn, từ ngày 21/5/2022 đến ngày 04/7/2022, T đã sử dụng một phần tiền các bị hại chuyển, trả lại cho chị T2, nói là trả tiền gốc và lãi của chị T2, chị H1 và ông C. Tổng số tiền T đã chuyển trả các bị hại thông qua chị T2 là 17.120.000.000 đồng.

Như vậy, xác định: Ông Vũ Đình C góp với chị T2 để chuyển cho T đầu tư số tiền là 13.800.000.000 đồng, ông C đã được T trả số tiền 6.474.000.000 đồng, số tiền còn lại T chiếm đoạt là 7.326.000.000 đồng; Chị Lã Thị H1 góp với chị T2 để chuyển cho T đầu tư là 8.830.000.000 đồng, chị H1 đã được T trả số tiền 6.600.000.000 đồng (gồm số tiền 800.000.000 đồng ngày 25/5/2022, chị T2 và anh C trả cho chị H1 theo yêu cầu của T), số tiền còn lại T chiếm đoạt là 2.230.000.000 đồng; Chị Trần Thị Thanh C2 cho T đầu tư là 7.200.000.000 đồng, chị T2 đã được T trả số tiền 4.846.000.000 đồng, số tiền còn lại T chiếm đoạt là 2.354.000.000 đồng. Vậy, tổng số tiền chị T2, chị H1, ông C chuyển cho T là 29.830.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không đầu tư “lấp căn” như đã hứa hẹn với các bị hại mà sử dụng một phần tiền: 17.920.000.000 đồng chuyển lại cho các bị hại để tạo niềm tin; phần tiền còn lại: 11.910.000.000 đồng T chiếm đoạt và sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Thấy T không trả tiền như đã hứa hẹn, chị T2, chị H1, ông C nhiều lần yêu cầu T cho gặp những khách hàng đặt mua căn hộ, cho xem giấy tờ thể hiện việc đầu tư thì T đều lấy nhiều lý do khất hẹn. Do T không trả được tiền nên chị T2, chị H1 yêu cầu T và chồng T là Nguyễn Hồng Q ký hợp đồng công chứng vay tiền. Ngày 5/8/2022, T và Q ký hợp đồng vay tiền của chị H1, thời hạn vay đến ngày 05/10/2022. Khoảng cuối tháng 9/2022, sau nhiều lần chị H1 yêu cầu T trả tiền thì T và Q có lập tài liệu viết tay xác nhận việc vợ chồng T cầm tiền của chị H1 để đầu tư dự án Vinhomes H. Ngày 05/10/2022 đến hạn T không trả tiền cho chị H1 như đã cam kết, T nói số tiền nhận của chị H1 đã được T đầu tư vào căn SH120 khu đường 51m, Đại lộ S, Vinhomes O Hưng Yên. Để chị H1 tiếp tục tin tưởng, T có cho chị H1 xem bản ảnh 01 Hợp đồng đặt cọc giữa T và Công ty CP T10 đề ngày 20/6/2022 nhưng không thấy ghi mã căn hộ. Sau đó vợ chồng T và Q có đưa vợ chồng chị H1 đến khu đô thị V để chỉ vị trí căn hộ trên (hiện chị H1 không còn nhớ địa điểm này ở đâu). Tại nơi T chỉ vị trí căn hộ thì thời điểm đó căn hộ chưa hình thành mà vẫn đang trong quá trình xây dựng. Khi đó chị H1 cũng không biết đó có đúng là căn hộ mã SH120 không thì chị H1 đã trực tiếp có đến Công ty T10 HOMES để tìm hiểu thì mới biết là có căn hộ mã SH120 và T có đặt cọc mua nhưng chỉ mới đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng và ký hợp đồng đặt cọc vào đầu tháng 10/2022, không phải tháng 6/2022 như T cung cấp cho chị H1. Sau khi biết thông tin trên, chị H1 hỏi thì T không giải thích được lý do và không giải trình được số tiền còn lại T sử dụng vào việc gì. Đến thời hạn, chị T2, chị H1 và ông C liên lạc với vợ chồng T, Q yêu cầu trả tiền nhưng T không trả nên các bị hại đã nộp đơn tố giác T có hành vi chiếm đoạt tài sản gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP Hà Nội.

Chị H1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra: 01 bản photocopy Hợp đồng vay tiền; 01 bản thỏa thuận ngày 28/9/2022, 01 Giấy xác nhận ngày 5/10/2022, T và Q nhận số tiền 2 tỷ đồng của vợ chồng chị H1 có chữ ký của Trần Đặng Thanh T và Nguyễn Hồng Q, đến nay chưa tìm thấy bản chính.

Sao kê tài khoản ngân hàng của Trần Đặng Thanh T, của chị Trần Thị T2, chị Lã Thị H1, ông Vũ Đình C thể hiện giao dịch của các bên như trên.

Xác minh tại Công ty CP T10 (Công ty T10) xác định: Tháng 7/2022, Công ty T10 được khách hàng sở hữu căn biệt thự DLSH120 tại dự án Khu đô thị V Hưng Yên ủy quyền rao bán căn biệt thự này. Ngày 02/10/2022 và ngày 04/10/2022, Trần Đặng Thanh T có liên hệ Công ty LUXE HOME để đặt cọc mua căn biệt thự DLSH120 nêu trên với số tiền 300.000.000 đồng. Quá trình làm việc, ngày 02/10/2022, T có xin nhân viên Công ty T10 01 mẫu Bản hợp đồng đặt cọc để trống các phần nội dung và có đóng dấu sẵn của Công ty để tự điền. Tuy nhiên, do nhân viên LUXE HOME thấy T ghi thông tin lập bản hợp đồng vào tháng 6/2022 là không chính xác nên đã thu hồi lại. Tại Hợp đồng T ký đặt cọc mua căn hộ trên với Công ty T10 thể hiện trong thời gian 07 ngày kể từ ngày đặt cọc thì T có trách nhiệm nộp đủ các khoản tiền để đảm bảo việc ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Tuy nhiên sau đó T không đến làm việc, không có phản hồi gì về việc tiếp tục mua căn hộ này nữa nên Công ty T10 đã hoàn trả lại cho T số tiền 300.000.000 đồng đã đặt cọc. Ngày 10/01/2023, Trần Đặng Thanh T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP Hà Nội số tiền 300.000.000 đồng.

Công ty Cổ phần V1 (chủ đầu tư của dự án Vinhomes O) có công văn trả lời, xác định: Trần Đặng Thanh T không phải nhân viên của tập đoàn V, không phải là môi giới hay cộng tác viên bán dự án Vinhomes O. Tập đoàn V không có cơ chế giao lại một số căn hộ thuộc dự án trên cho lãnh đạo tập đoàn.

Ngoài ra, căn cứ kết quả sao kê Ngân hàng của Trần Đặng Thanh T còn xác định: Ngày 16/6/2022, T có chuyển khoản cho chị T2 số tiền 800.000.000 đồng. Chị T2 khai: Mục đích T chuyển số tiền 800.000.000 đồng trên là để nhờ chị T2 đi đặt cọc mua đất hộ T tại thành phố T. Sau khi nhận tiền chị T2 đã chuyển số tiền này cho chủ đất. Tuy nhiên sau đó T không mua đất nữa nên việc giao dịch này hiện đang xảy ra tranh chấp. Trần Đặng Thanh T khai phù hợp với lời khai của chị T2. Cơ quan điều tra xác định đây là giao dịch dân sự nên không xem xét xử lý.

Ông Vũ Đình C, chị Lã Thị H1, chị Trần Thị T2 đề nghị xử lý Trần Đặng Thanh T theo quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền chiếm đoạt trên.

  1. Hành vi chiếm đoạt 1.197.000.000 đồng của anh Ngô Mạnh Đ1.

Khoảng đầu năm 2022, anh Ngô Mạnh Đ1 có nhu cầu mua bất động sản tại dự án Vinhomes O Hưng Yên nên đã lên mạng Internet tìm hiểu và đọc được thông tin Trần Đặng Thanh T môi giới bất động sản. Anh Đ1 liên lạc với T và được T giới thiệu làm nhân viên môi giới bất động sản của Công ty TNHH P2, địa chỉ: Tầng B tòa C, số B N, xã T, huyện T, TP Hà Nội. T giới thiệu Công ty P2 dự kiến sẽ được cấp quỹ căn hộ vào ngày 30/4/2022 tại dự án Vinhomes O Hưng Yên. T mời anh Đ1 mua, nộp tiền đặt cọc "thiện chí" và giải thích thực tế Công ty N3 không nắm được thông tin cụ thể về quỹ, mã và thông tin căn hộ được giao để chào bán. Tuy nhiên để anh Đ1 tin tưởng, T vẫn cho anh Đ1 xem sơ đồ tổng thể dự án và dặn anh Đ1 chọn căn hộ như mong muốn. Trường hợp anh Đ1 không ưng ý với căn hộ được phân tại đợt mở bán đó thì sẽ được hủy hợp đồng và hoàn lại tiền đặt cọc cùng một phần tiền chênh lệch do được bồi thường từ việc có khách hàng khác cũng đặt mua căn hộ tại Công ty N3 nhưng đăng ký mua sau nên phải nộp số tiền cọc lớn hơn. Tin tưởng T, anh Đ1 đã ký 02 Hợp đồng đặt cọc mua 02 căn hộ tại dự án với T và chuyển đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng T9 của T kể trên. Đến ngày 4/5/2022, T thông báo dự án không mở bán 02 căn hộ anh Đ1 đã chọn nên trả lại tiền đặt cọc và tiền chênh lệch 30.000.000 đồng/căn, tổng số tiền T đã trả lại cho anh Đ1 260.000.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục mời anh Đ1 đầu tư qua hình thức "lấp căn" tương tự những mã căn T giới thiệu cho chị T2, chị H1. Do thấy T đã thanh toán đầy đủ tiền nên anh Đ1 tin tưởng và tham gia đầu tư góp vốn với T, chuyển khoản cho T tổng số tiền là 3.320.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V2 số [...] của anh Đ1 đến tài khoản của T. Cụ thể:

  • Mã 1: Ngày 05/5/2022, anh Đ1 chuyển khoản cho T số tiền 300.000.000 đồng, nội dung ghi “cọc lấp căn của H C1”.
  • Mã 2: Ngày 06/5/2022, anh Đ1 chuyển khoản cho T số tiền 600.000.000 đồng, nội dung ghi “Lấp 2 căn Thúy Hải Âu của H3 C34”.
  • Mã 3: Ngày 10/5/2022, anh Đ1 chuyển khoản cho T số tiền 420.000.000 đồng, nội dung ghi “Lấp căn PT Dũng C34” và “Lấp căn cùng Thúy C34".
  • Mã 4: Ngày 03/6/2022, anh Đ1 chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung ghi “lấp lốc căn sếp Hưng C34”.
  • Mã 5: Ngày 04/6/2022, anh Đ1 chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, nội dung ghi “lấp lô 6 căn sếp Hương C34”.

Từ ngày 09/5/2022 đến ngày 20/6/2022, để tạo niềm tin cho anh Đ1 tiếp tục chuyển tiền góp vốn, T đã sử dụng một phần tiền anh Đ1 chuyển để trả lại cho anh Đ1 với tổng số tiền 2.060.000.000 đồng, T nói là tiền gốc và lợi nhuận.

Sau đó, đến hạn thanh toán số tiền còn lại, T lấy nhiều lý do khất hẹn, không trả lại tiền cho anh Đ1 nên anh Đ1 yêu cầu T và chồng là Nguyễn Hồng Q ký Hợp đồng công chứng vay của anh Đ1 số tiền 2.000.000.000 đồng (gồm 1.197.000.000 đồng tiền nợ gốc và nợ lãi do hai bên thỏa thuận) và cam kết trả trong thời hạn 06 tháng. Anh Đ1 đã giao nộp bản photocopy Hợp đồng đặt cọc nêu trên cho Cơ quan điều tra (đến nay chưa tìm thấy bản chính). Đến hẹn, T vẫn không trả tiền cho anh Đ1 mà nói toàn bộ số tiền của các nhà đầu tư T cất giữ tại nhà trọ và bị mất trộm vào khoảng giữa năm 2022. Do đó anh Đ1 đã đến Cơ quan điều tra trình báo hành vi chiếm đoạt tài sản của T.

Sao kê tài khoản của Trần Đặng Thanh T và anh Ngô Mạnh Đ1 thể hiện các giao dịch chuyển tiền trên.

Công ty P2 có công văn trả lời, xác nhận: Trần Đặng Thanh T không phải là nhân viên đồng thời cũng không phải là cộng tác viên của Công ty P2.

Như vậy, tổng số tiền anh Đ1 chuyển khoản cho T để góp vốn đầu tư dưới hình thức “lấp căn” là 3.520.000.000 đồng, T đã sử dụng một phần chuyển lại cho anh Đ1 số tiền 2.323.000.000 đồng, số tiền 1.197.000.000 đồng còn lại T không đầu tư “lấp căn” như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt và sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Anh Ngô Mạnh Đ1 đề nghị xử lý Trần Đặng Thanh T theo quy định pháp luật và yêu cầu bồi thường số tiền 1.197.000.000 đồng đã chiếm đoạt.

  1. Hành vi chiếm đoạt 925.000.000 đồng của chị Trần Thị Kim T3; 1.000.000.000 đồng chị Nguyễn Thị T4 và 354.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị N.

Chị Trần Thị Kim T3 và chị Nguyễn Thị T4 là bạn học cấp 3 với Trần Đặng Thanh T. Quá trình gặp nhau, T thường xuyên giới thiệu với chị T3, chị T4 về việc T làm môi giới bất động sản tại dự Vinhomes O Hưng Yên. Khoảng tháng 4/2022, T nói với chị T4, chị T3 về việc có nhiều mối quan hệ với Tập đoàn V, có thông tin nội bộ, có thể tiếp cận để mua bán các căn hộ ngoại giao tại khu đô thị V Hưng Yên. T rủ chị T3 và chị T4 tham gia đầu tư bất động sản với T bằng hình thức “lấp căn” như trên. Tin tưởng T nên chị T3 và chị T4 đã nhiều lần chuyển tiền cho T đến tài khoản Ngân hàng T9 của T kể trên. Ngoài ra, chị T4 còn giới thiệu T với bà Nguyễn Thị N (SN: 1973, trú tại: Thôn C, xã K, huyện G, TP Hà Nội) - là họ hàng của chị T4. Bà N sau khi nghe T giới thiệu đã đồng ý góp vốn đầu tư làm ăn cùng T.

Từ ngày 19/4/2022 đến ngày 9/5/2022, bà Nguyễn Thị N đầu tư riêng, nhiều lần chuyển khoản góp vốn đầu tư căn hộ dưới hình thức “lấp căn” cho T với tổng số tiền 1.900.000.000 đồng:

  • Mã 1: Ngày 19/4/2022, bà N chuyển khoản cho T số tiền 400.000.000 đồng, nội dung ghi “Cô N đặt cọc 2 căn”.
  • Mã 2: Ngày 28/4/2022, bà N chuyển khoản cho T số tiền 800.000.000 đồng, nội dung ghi “Cô N đặt cọc 4 căn”.
  • Mã 3: Ngày 09/5/2022, bà N chuyển khoản cho T số tiền 700.000.000 đồng, nội dung ghi “Cô N chuyển nốt tiền đặt cọc căn hộ”.

Tháng 6/2022, T yêu cầu chị Trần Thị Kim T3, chị Nguyễn Thị T4 và bà Nguyễn Thị N cử một người đứng ra giao dịch, chuyển tiền cho T. Chị T3, chị T4 và bà N thống nhất cử chị T3 đứng ra làm đầu mối. Chị T4, bà N chuyển tiền cho chị T3 để chị T3 chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần C4 số [...] mang tên Trần Thị Kim T3 lại cho T. Theo yêu cầu của T về nộp tiền góp vốn, từ ngày 06/6/2022 đến 20/6/2022, chị T3 đứng ra làm đầu mối chuyển khoản cho T là tổng số tiền là 3.650.000.000 đồng, cụ thể:

  • Mã 1: Ngày 06/6/2022, chị T3 đã chuyển khoản cho T số tiền 1.000.000.000 đồng là tiền của chị T3, nội dung ghi “chuyển tiền lấp căn 1 tỷ";
  • Mã 2: Ngày 06/6/2022, T thông báo với chị T4 về việc kết nối được một căn ngoại giao với mức đầu tư là 2.000.000.000 đồng. Do không đủ tài chính nên chị T4 rủ bà N tham gia đầu tư chung, thống nhất mỗi người góp 1.000.000.000 đồng. Cùng ngày, bà N chuyển khoản cho chị T4 1.000.000.000 đồng. Chị T4 đã chuyển khoản cho chị T3 tổng số tiền 2.000.000.000 đồng để chị T3 chuyển khoản cho T. Cùng ngày, chị T3 đã chuyển tiếp số tiền 2.000.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng của T, nội dung ghi “tiền cọc căn 2 tỷ cho T4”.
  • Mã 3: Ngày 08/6/2022, T tiếp tục thông báo cho chị T3 có căn hộ ngoại giao với mức đầu tư 1.000.000.000 đồng. Do không đủ tiền nên chị T3 đã chuyển khoản cho T số tiền 250.000.000 đồng, nội dung ghi “chuyển tiền lấp căn 250tr 10 ngày”. Đối với mã này T nói với chị T3 là sẽ để chị T3 tham gia chung với một số nhà đầu tư khác nhưng không nói rõ là ai.
  • Mã 4: Ngày 20/6/2022, T tiếp tục thông báo cho chị T3 có căn ngoại giao với mức đầu tư 2.000.000.000 đồng, lợi nhuận là 400.000.000 đồng. Do không đủ tiền nên chị T3 và T thỏa thuận sẽ chuyển cho T số tiền 400.000.000 đồng để góp vốn. T có trách nhiệm nộp số tiền 1.250.000.000 đồng mà chị T3 đã đầu tư trước đó, đồng thời T sẽ cùng tham gia đầu tư mã này số tiền 350.000.000 đồng để đủ số tiền 2.000.000.000 đồng. Cùng ngày, chị T3 đã chuyển khoản cho T số tiền 400.000.000 đồng, nội dung ghi “chuyển tiền lấp căn 2 tỷ được 400 lãi, cũ chuyển tiếp 1 tỷ 250 triệu, tùng ghép 350 triệu”.

Để tạo niềm tin cho chị T3, chị T4 và bà N tiếp tục chuyển tiền, T đã sử dụng một phần tiền của các bị hại, chuyển khoản trả lại cho chị T3, bà N. Từ ngày 21/4/2022 đến ngày 20/6/2022, tổng số tiền T đã chuyển trả bà N là 2.546.000.000 đồng, trả chị T3 là 725.000.000 đồng.

Như vậy, số tiền chị T3 góp vốn chuyển cho T là 1.650.000.000 đồng; T đã chuyển khoản trả lại chị T3 725.000.000 đồng, số tiền còn lại bị T chiếm đoạt là 925.000.000 đồng; Số tiền chị T4 góp vốn đầu tư với T là 1.000.000.000 đồng và bị T chiếm đoạt toàn bộ; Số tiền bà N góp vốn chuyển cho Tlà 2.900.000.000 đồng, T đã chuyển khoản trả bà N số tiền 2.546.000.000 đồng, số tiền còn lại bị T chiếm đoạt là 354.000.000 đồng. Tổng số tiền còn lại 2.279.000.000 đồng của chị T3, chị T4 và bà N, T không đầu tư “lấp căn” như đã hứa hẹn mà sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân hết.

Đến thời hạn thanh toán số tiền còn lại, T lấy nhiều lý do khất hẹn, không trả lại tiền cho chị T3, chị T4, bà N. Để chị T3, chị T4 tin tưởng, T nói chị T3, chị T4 soạn Giấy góp vốn ghi nhận số tiền chị T3, chị T4 đã chuyển cho T để đầu tư và hứa hẹn trả trong thời gian 06 tháng (chị T3 đã cung cấp cho Cơ quan điều tra tài liệu bản chính). Đến thời hạn trả tiền, T vẫn không thực hiện nên chị T3, chị T4 và bà N đã có đơn tố giác T có hành vi chiếm đoạt tài sản gửi đến Cơ quan điều tra.

Chị T3 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 Giấy góp vốn đứng tên Trần Thị Kim T3, người nhận tiền đứng tên Trần Đặng Thanh T.

Tại bản kết luận giám định số 4419 ngày 05/7/2023 của Phòng K1 Công an T11 kết luận: Chữ viết phần nội dung của tài liệu cần giám định (01 Giấy góp vốn đứng tên Trần Thị Kim T3, người nhận tiền đứng tên Trần Đặng Thanh T) với chữ viết Trần Đặng Thanh T không phải do cùng một người viết ra; Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Trần Đặng Thanh T dưới chữ ký trên tài liệu cần giám định là chữ ký, chữ viết do Trần Đặng Thanh T ký, viết ra.

Sao kê tài khoản Ngân hàng của chị T3, chị T4, bà N và tài khoản của T thể hiện giao dịch chuyển tiền như trên.

Tổng số tiền Trần Đặng Thanh Tnhận của chị Trần Thị T2, chị Lã Thị H1, ông Vũ Đình C, anh Ngô Mạnh Đ1, chị Trần Thị Kim T3, chị Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị N là 38.900.000.000 đồng. Để tạo niềm tin cho các bị hại tiếp tục chuyển tiền, T nhiều lần chuyển trả các bị hại số tiền 23.514.000.000 đồng. Còn lại số tiền 15.386.000.000 đồng T chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đặng Thanh T không thừa nhận hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại thông qua việc nhận tiền đầu tư căn hộ chung cư tại dự án Vinhomes O. Khi Cơ quan điều tra yêu cầu T giải trình về việc sử dụng toàn bộ số tiền các bị hại đã chuyển theo thỏa thuận thì T khai: Do có nhiều đợt cung cấp thông tin đầu tư cho các bị hại nên T không nhớ cụ thể từng lần, các thông tin căn hộ đều là do T nghe lại từ các nhân viên môi giới bất động sản, việc sử dụng tiền của các bị hại chuyển cho, T khai rút tiền mặt và đưa cho các nhân viên bán hàng và các chủ căn hộ (không có thông tin nhân thân cụ thể). Khoảng tháng 6/2022, T đã thực hiện xong toàn bộ việc đầu tư theo thỏa thuận với các bị hại và đã nhận từ những người mua căn hộ trả bằng tiền mặt số tiền 28.500.000.000 đồng. Việc giao dịch giữa chuyển tiền T khai trên Tùng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì. Sau đó T cất toàn bộ số tiền 28.500.000.000 đồng trong tủ quần áo tại nhà kho do vợ chồng T thuê ở số C, thôn C, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội. Việc cất giữ tiền mặt này T không nói cho ai biết và T là người khóa cửa nhà. Cuối tháng 6/2022, T đến nhà kho kiểm tra thì phát hiện bị mất trộm toàn bộ số tiền trên. Khi phát hiện sự việc T không thấy ổ khóa có dấu hiệu cạy phá. Do tâm lý hoảng loạn nên T không nói cho ai biết, không trình báo sự việc tới Cơ quan Công an. Trước đó, T đã nhiều lần cất giữ tiền tại nhà kho này.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của Trần Đặng Thanh T tại P tòa S khu đô thị V, huyện G, TP Hà Nội và tại Thôn T, xã V, huyện G, TP Hà Nội, kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xác minh tại Công an thị trấn T, huyện G xác định: Công an thị trấn T không tiếp nhận vụ việc trình báo mất trộm nào của công dân tên Trần Đặng Thanh T hay Nguyễn Hồng Q tại địa chỉ số C, thôn C, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị L2 là chủ hộ căn nhà số C, thôn C, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội cung cấp: Khoảng năm 2018, vợ chồng T và Q thuê đất trên của bà L2 và dựng căn nhà cấp 4 lợp tôn để làm kho chứa hàng. Đến khoảng đầu năm 2022, vợ chồng T, Q không qua lại, không sử dụng nhà kho và không trả tiền thuê đất theo thỏa thuận. Tháng 12/2022, bà L2 đã yêu cầu vợ chồng T, Q bàn giao lại chìa khóa nhà kho. Khi bàn giao hai bên xác nhận trong nhà kho không có tài sản gì, không thấy vợ chồng T, Q nói gì về việc bị trộm cắp tài sản.

Căn cứ kết quả xác minh tại Ngân hàng T9 về sao kê tài khoản của Trần Đặng Thanh T xác định: Ngay sau khi nhận tiền từ chị T2, chị H1, anh Đ1 và chị T3, T nhiều lần chuyển tiền tới tài khoản Ngân hàng V3 số 0541000299489 mang tên Nguyễn Hồng Q (chồng T). Đồng thời, Q cũng chuyển khoản tiền nhiều lần lại cho Trần Đặng Thanh T. T xác nhận việc chuyển khoản cho Q theo tài liệu sao kê trên để lấy tiền mặt từ chồng, sau đó đem tiền mặt đi giao dịch với các nhân viên môi giới bất động sản. T không cho Q biết việc đầu tư, làm ăn của T.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng Q khai nhận phù hợp với lời khai của T. Q khai thỉnh thoảng T có nhờ Q lái xe chở T dẫn khách đi xem bất động sản, tuy nhiên Q không được bàn bạc hay tham gia môi giới các dự án bất động sản cho khách, không biết việc T chiếm đoạt tiền của các bị hại và không được hưởng lợi. Q thừa nhận có nhiều lần T chuyển khoản tiền đến tài khoản Ngân hàng V3 số 0541000299489 của Q để nhờ Q đổi tiền mặt cho T đi giao dịch với nhân viên môi giới bất động sản. Sau khi nhận tiền từ T, Q có liên lạc với một nhóm người không quen biết trên mạng xã hội để trao đổi chuyển tiền qua tài khoản theo họ chỉ định và những người này sẽ mang tiền đến khu vực khu đô thị V, G, Hà Nội giao cho Q với chi phí đổi tiền là 1.000 đồng/1.000.000 đồng. Tổng số tiền Q đổi hộ T là 28.600.000.000 đồng. Ngoài ra, Q xác nhận sau khi chị H1, anh Đ1, chị T2 không đòi được tiền của T có đến nhà yêu cầu vợ chồng Q cùng ký tên vào các hợp đồng vay tiền nên Q đã ký xác nhận nợ.

Tại Bản cáo trạng số 468/CT-VKSHN-P3 ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Đặng Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa có nhận có giao dịch với các bị hại, tổng số tiền đã nhận và đã trả bị hại nêu trong cáo trạng là đúng, mục đích các bị hại chuyển tiền là để đầu tư “Lấp căn” như cáo trạng đã nêu. Bị cáo giữ nguyên lời khai cho rằng bản thân có chuyển tiền của các bị hại cho nhân viên tư vấn bất động sản, bị mất 28.500.000.000 đồng nên không có tiền trả bị hại nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, bị cáo thừa nhận bị truy tố là đúng người, đúng tội.
  • Bị hại xác nhận nội dung cáo trạng nêu là đúng và đề nghị xử phạt bị cáo nghiêm minh, buộc bị cáo bồi thường số tiền còn chiếm đoạt đồng thời xem xét vai trò của anh Nguyễn Hồng Q. Chị Trần Thị T2 xác nhận ngày 14/11/2022, bị cáo đã trả thêm 50.000.000 đồng. Chị Lã Thị H1 xác nhận ngày 12/11/2022, bị cáo đã trả thêm số tiền 50.000.000 đồng.
  • Anh Nguyễn Hồng Q thừa nhận việc bị cáo có chuyển khoản cho tổng số 35.915.100.000 đồng, đã chuyển lại cho bị cáo tổng số 27.154.500.000 đồng, số tiền chênh lệnh là 8.760.000.000 đồng. Anh Q khai số tiền chênh lệch đã đổi thành tiền mặt và giao lại cho bị cáo nhưng không đưa ra chứng cứ. Anh Q khẳng định không bàn bạc, không biết hành vi của bị cáo, không được hưởng lợi từ số tiền bị cáo chiếm đoạt.
  • Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị:

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 19 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

    Buộc bị cáo bồi thường bị hại số tiền còn chiếm đoạt, tiếp tục tạm giữ 300.000.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  • Người bào chữa không có ý kiến gì về tội danh, khung hình phạt truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tòa án có triệu tập anh Nguyễn Hữu D, anh Nguyễn Đức K, chị Lê Thị L3 với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Kết quả tranh tụng xác định anh D, anh K, chị L3 không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên không đưa vào bản án.

[2] Về trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận có nhận của các bị hại tổng số tiền 38.900.000.000 đồng để đầu tư bất động sản bằng hình thức “lấp căn” như cáo trạng nêu, bị cáo đã chuyển lại cho các bị hại tổng số 23.514.000.000 đồng. Giải trình về việc sử dụng tiền các bị hại giao, bị cáo cho rằng thông tin các căn hộ bị cáo nghe được từ nhân viên tư vấn bất động sản, toàn bộ số tiền bị hại chuyển đến bị cáo rút rồi chuyển thành tiền mặt để giao cho nhân viên bán hàng và các chủ các căn hộ, bị cáo làm mất máy điện thoại nên không còn thông tin của nhân viên môi giới và chủ căn hộ; khoảng tháng 6/2022, bị cáo đã thực hiện xong các khoản đầu tư và nhận từ chủ các căn hộ tổng số tiền 28.500.000 đồng. Sau khi nhận 28,5 tỷ đồng, bị cáo cất tiền trong tủ quần áo tại nhà kho (vợ chồng bị cáo thuê ở số C thôn C, thị trấn T) và bị mất trộm toàn bộ.

Tại phiên tòa, các bị hại khẳng định bản cáo trạng mô tả hành vi, thủ đoạn của bị cáo cũng như số tiền giao nhận giã bị hại và bị cáo là đúng với thực tế.

Quá trình điều tra, bị cáo không cung cấp được thông tin nhân viên môi giới và chủ căn hộ mà bị cáo cho rằng đã giao dịch. Không cung cấp được tài liệu chứng từ có liên quan.

Công ty cổ phần V1, chủ đầu tư dự án Vinhomes O xác định Trần Đặng Thanh T không phải là nhân viên của tập đoàn V, không phải môi giới hay cộng tác viên bán hàng dự án V Ocean Park 2. Vingroup không có cơ chế giao lại căn hộ cho thuộc dự án cho lãnh đạo tập đoàn.

Xác minh tại Công ty T10 xác định, ngày 04/10/2022 Trần Đặng Thanh T đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng mua căn biệt thự DLSH120 chứ không phải là từ tháng 6/2022, sau đó bị cáo không có phản hồi về việc tiếp tục mua căn hộ nên Công ty đã trả lại bị cáo 300.000.000 đồng.

Xác minh tại Công ty TNHH P2 xác định Trần Đặng Thanh T không phải là nhân viên hay cộng tác viên của N1.

Công an thị trấn T xác định không có thông tin gì về việc mất trộm tại địa chỉ 34 thôn C, thị trấn T. Chủ căn nhà số C thôn C xác nhận năm 2018 Trần Đặng Thanh T cùng chồng có thuê và dựng căn nhà cấp 4 để làm nhà kho, nhưng đến đầu năm 2022 thì vợ chồng bị cáo không sử dụng và không trả tiền thuê theo thỏa thuận, tháng 12/2022 khi nhận lại căn nhà, hai bên xác nhận trong kho không có tài sản gì, vợ chồng bị cáo không thông tin gì về việc mất trộm.

Lời khai của các bị hại phù hợp với nhau về việc Trần Đặng Thanh T giới thiệu gian dối bản thân là nhân viên môi giới của dự án Vinhomes O, có quan hệ với lãnh đạo tập đoàn V nên có thông tin nội bộ, có thể tiếp cận mua hộ ngoại giao. Do tin tưởng nên các bị hại đã giao tiền cho bị cáo để đầu tư. Kết quả sao kê giao dịch ngân hàng P3 với nội dung Trần Đặng Thanh T nhận từ các bị hại tổng số tiền 38.900.000.000 đồng; bị cáo chuyển lại cho các bị hại tổng số 23.514.000.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 7/2022, Trần Đặng Thanh T đưa ra thông tin gian dối với các bị hại về việc mình là nhân viên môi giới bất động sản của tập đoàn V, kêu gọi các bị hại góp tiền để đầu tư “lấp căn” các căn hộ ngoại giao để được hưởng lợi nhuận sau khoảng từ 10-12 ngày (mức lợi nhuận khoảng 20%/số tiền góp vốn). Sau khi nhận tiền của các bị hại, T không thực hiện theo cam kết mà chiếm đoạt của 7 bị hại tổng số tiền là 15.386.000.000 đồng.Trong đó chiếm đoạt của chị Trần Thị T2 số tiền 2.354.000.000 đồng; của chị Lã Thị H1 số tiền 2.230.000.000 đồng; của ông Vũ Đình C số tiền 7.326.000.000 đồng; của anh Ngô Mạnh Đ1 số tiền 1.197.000.000 đồng; của chị Trần Thị Kim T3 số tiền 925.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị T4 số tiền 1.000.000.000 đồng, của bà Nguyễn Thị N số tiền 354.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội nhiều lần, chiếm đoạt số tiền rất lớn đến nay chưa bồi thường, không thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội với thời gian dài nhất mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Đối với một số cá nhân có liên quan.

Các bị hại đều khẳng định việc đầu tư “lấp căn” đều trực tiếp thỏa thuận, giao dịch với bị cáo, Nguyễn Hồng Q không tham gia bàn bạc, hứa hẹn. Trần Đặng Thành T6 và Nguyễn Hồng Q đều khẳng định Q không biết việc thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, không biết nguồn gốc số tiền bị cáo chuyển. Vì vậy, không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hồng Q.

[4] Về trách nhiệm dân sự.

Kết quả điều tra xác định bị cáo còn chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền 15.386.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Chiếm đoạt của chị Trần Thị T2 2.354.000.000 đồng,
  • Chiếm đoạt của chị Lã Thị H1 2.230.000.000 đồng,
  • Chiếm đoạt của ông Vũ Đình C3 đồng,
  • Chiếm đoạt của anh Ngô Manh Đ2 1.197.000.000 đồng,
  • Chiếm đoạt của chị Trần Thị Kim T7 đồng,
  • Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T8 đồng,
  • Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị N2 đồng.

Kết quả tranh tụng xác định, bị cáo đã bồi thường thêm cho chị Trần Thị T2, chị Lã Thị H1 mỗi người 50.000.000 đồng.

Vì vậy, cần buộc bị cáo bồi thường các bị hại số tiền tương ứng.

Kết quả sao kê xác định Trần Đặng Thanh T sau khi nhận tiền của bị hại đã chuyển cho Nguyễn Hồng Q tổng số 35.915.100.000 đồng; Q chuyển lại cho T 27.154.500.000 đồng, số tiền chênh lệch là 8.760.600.000 đồng. Q khai số tiền chênh lệnh trên được đổi thành tiền mặt để giao lại cho T nhưng không có tài liệu chứng minh. Vì vậy, cần buộc Nguyễn Hồng Q nộp lại 8.760.600.000 đồng để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Số tiền 300.000.000 đồng bị cáo giao nộp cần tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Đặng Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Trần Đặng Thanh T 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2024.

  3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
    1. Buộc Trần Đặng Thanh T bồi thường:
      • - Chị Trần Thị T2 2.304.000.000 đồng,
      • - Chị Lã Thị H1 2.180.000.000 đồng,
      • - Ông Vũ Đình C3 đồng,
      • - Anh Ngô Manh Đ2 1.197.000.000 đồng,
      • - Chị Trần Thị Kim T7 đồng,
      • - Chị Nguyễn Thị T8 đồng,
      • - Bà Nguyễn Thị N2 đồng.
    2. Buộc Nguyễn Hồng Q nộp lại số tiền 8.760.600.000 đồng để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của Trần Đặng Thanh T.
    3. Tiếp tục lưu giữ 300.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

      (300.000.000 đồng hiện lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội theo Ủy nhiệm chi ngày 12/9/2024 của Công an Thành phố T11)

    4. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 123.286.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- VKSND Tp. Hà Nội;

- Công an Tp. HN;

- Cục THADS T.p Hà Nội;

- Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;

- VKSND cấp cao tại Hà Nội;

- Bị cáo; bị hại;

- Người bào chữa;

- Người có QLVNLQ;

- Lưu HS, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 724/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 724/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đặng Thanh T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger