|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 721/2025/DS-PT Ngày: 30/6/2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt. |
---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 462/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 5 bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2602/2025/QĐPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7927/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Đình H, sinh năm 1950; địa chỉ: Số nhà B đường T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Nguyên H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà B đường T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 03/10/2017) (xin vắng mặt).
- Bị đơn:
- Bà Trần Thanh H7, sinh năm 1959; địa chỉ: Số nhà F đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Hồ Hoàng N, sinh năm 1953 (chết 2012).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N:
- + Bà Trần Thanh H7, sinh năm 1959;
- + Ông Hồ Thanh H2, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Số nhà F đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Bà Hồ Thị Đoan T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số nhà I đường P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;
- + Ông Hồ Thanh S, sinh năm 1980 (chết 2021).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S: Bà Trần Thanh H7, sinh năm 1959; địa chỉ: Số nhà F đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Hồ Thiện M, sinh năm 1999; địa chỉ: Số nhà E đường N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn H3, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà C đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà B đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng hoặc ông Trịnh Anh Q, sinh năm 1998; địa chỉ: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 23/01/2021 và ngày 04/01/2025) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H7: Ông Phan Thế B, sinh năm 1967 – Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số nhà A Đường A nối B - P, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị Hoàng V, sinh năm 1951 (chết năm 2024);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà V:
- + Bà Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà C đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Bà Nguyễn Thị Thu V1, sinh năm 1973;
- + Bà Nguyễn Thị Thu N2, sinh năm 1977;
- + Ông Nguyễn Chiến T1, sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ: Số nhà D đường M, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà V1, bà N2 và ông T1: Bà Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà D đường M, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 13/01/2025) (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; địa chỉ: Số nhà B đường T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà T2: Ông Lê Nguyên H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà B đường T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 20/7/2005 và ngày 03/10/2017) (xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1951 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Số nhà F đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Tất T3, sinh năm 1953; địa chỉ: Số nhà F đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Phạm Kim N3, sinh năm 1953; địa chỉ: Số nhà C đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Bà Lê Ngọc T4, sinh năm 1957;
- Ông Lê Hiếu K, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: Số nhà B đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà T4 và ông K: Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Số nhà D Ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 17/10/2023) (có mặt);
- Ngân hàng N6; địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Nam T5, sinh năm 1984; chức vụ: Nhân viên Phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro kiêm cán bộ pháp chế Ngân hàng N6 chi nhánh K1; địa chỉ: Số B đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 20/12/2024) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải; nguyên đơn trình bày:
Ngày 23/01/1994, ông Hồ Chí T6 và vợ là bà Trần Thị Tuyết H5 (H6) đã làm hợp đồng bán căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông H với giá 350.000 USD (ba trăm năm mươi ngàn đô la Mỹ). Thực hiện điểm 1 của Hợp đồng mua bán nhà ngày 23/01/1994 thì vào ngày 24/01/1994, ông H, ông T6 và bà H5 đã làm thêm bản hợp đồng thuê nhà với thời hạn 50 năm được Ủy ban nhân dân nơi cư ngụ của bên bán nhà và nhân chứng ký xác nhận các ngày 26/01/1994, 27/01/1994. Ngày 26/01/1994, ông H đã đưa trước cho bên bán nhà 80.000 USD (tám mươi ngàn đô la Mỹ) quy ra vàng là 169 (một trăm sáu mươi chín lượng vàng) SJC và được hai bên mua bán ký xác nhận. Ngày 04/3/1994, hai bên đã lập “Biên bản giao nhận nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh”. Sau đó, bên bán nhà đã làm biên bản giao nhà nhưng không giao nhà và không thực hiện tiếp hợp đồng mà bên bán đã cam kết mặc dù ông H đã nhắc nhở, đốc thúc nhiều lần. Ông Hồ Chí T6 và bà Trần Thị Tuyết H5 (H6) khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà F T lại làm giấy bán nhà cho người khác, do đó ông H đã nhờ pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình. Khoảng tháng 4/2005, ông Hồ Chí T6 chết, bà H5 đã chết trước đó. Ông Hồ Hoàng N là con của ông Hồ Chí T6, bà Trần Thanh H7 là vợ của ông Hồ Hoàng N và cũng là con riêng của bà Trần Thị Tuyết H5 (H6) là những người được hưởng thừa kế căn nhà F T. Ông H yêu cầu những người thừa kế tài sản của ông T6 và bà H5 (H6) phải tiếp tục hợp đồng mua bán nhà 672 T đã được ký kết giữa ông H với ông T6 và bà H5 (H6). Nếu huỷ hợp đồng mua bán nhà thì phải bồi thường cho ông H số tiền đã đưa trước bằng 80.000 USD/350.000 USD tương đương bằng 1/4 căn nhà, nhà đã được Hội đồng định giá Quận 5 định tổng trị giá nhà và đất ngày 21/9/2005 là 22.278.000.500 (hai mươi hai tỷ hai trăm bảy mươi tám triệu năm trăm) đồng tương đương 2.544,123 lượng vàng SJC - 1/4 căn nhà = 636,030 lượng vàng SJC.
Bị đơn – ông Hồ Hoàng N trình bày: Ông là con ruột của ông Hồ Chí T6 (ông T6 có vợ là bà Trần Thị Tuyết H5), ông T6 có 2 người con gồm ông và bà Hồ Thị Hoàng V, bà Trần Thị Thanh H7 là con riêng của bà Trần Thị Tuyết H5 và là vợ của ông. Năm 1994 ông Hồ Chí T6 - bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H có làm hợp đồng thuê nhà F Trần Hưng Đạo P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian là 50 năm và ông H có đặt cọc là 80.000 USD (tám mươi ngàn đô la Mỹ) việc này ông không biết vì lúc đó ông đang ở chỗ khác. Theo hợp đồng thuê nhà ông T6 và gia đình đã đi thuê nhà nơi khác ở và giao nhà trống cho ông H, nhưng không thấy ông H đến nhận nhà nên 7 tháng sau ông T6 và gia đình lại quay về nhà F T ở tiếp. Ông H thấy lo giấy tờ nhà khó khăn nên đã chuyển qua thoả thuận mua nhà số 8 L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh bằng “Lời giao ước cam kết” giữa hai bên là chuyển 80.000 USD trên qua đặt cọc nhà số H L khi nhà nước trả lại phải bán cho ông H không thay đổi với giá 500 lượng vàng SJC, hai bên cùng ký ngày 11/5/1994. Hợp đồng thuê nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đã được hai bên thanh lý bằng Tờ cam kết ngày 11/5/1994. Như vậy, ông H không có quyền khiếu nại hoặc tranh chấp hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh với gia đình ông nữa. Khi ông H và ông T6 ký hợp đồng mua bán và hợp đồng thuê căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh ông T6 chưa đứng tên sở hữu chủ căn nhà nên không có quyền bán cho ông H bằng bất cứ hình thức nào. Hiện gia đình ông đang xin lại nhà số H L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và Nhà nước đã trả 2 căn trên phần đất đó (hiện U đang quản lý sử dụng) khi nào Nhà nước trả lại thì gia đình sẽ thực hiện cam kết giữa ông T6 và ông H.
Bà Trần Thanh H7 trình bày: Bà là con riêng của bà Trần Thị Tuyết H5, ông Hồ Hoàng N là con riêng của ông Hồ Chí T6. Căn nhà F T là Nhà nước quản lý. Ông T6 mua hoá giá và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004. Việc ông T6, bà H5 và ông H ký hợp đồng mua bán hay thuê mướn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, bà không biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị T2 (vợ hợp pháp của ông Trương Đình H) uỷ quyền cho ông H có cùng ý kiến và yêu cầu như nguyên đơn – ông Trương Đình H.
Bà Hồ Thị Hoàng V trình bày: Bà là con của ông Hồ Chí T6. Việc ông Hồ Chí T6, bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H có giao kết mua bán hoặc cho thuê căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh bà không biết. Về yêu cầu của ông H bà yêu cầu Toà án xét xử theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập – bà Lê Thị C1 trình bày: Năm 1999, bà và ông Hồ Chí T6 (đã chết ngày 06/3/2005) thỏa thuận mua bán căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Bản thoả thuận giữa hai bên ký ngày 27/11/1999. Đến ngày 27/6/2000, hai bên ký tiếp phụ lục mua bán nhà. Trong quá trình thực hiện thoả thuận mua bán nhà đến thời điểm ngày 27/6/2000, bà đã giao hết số vàng mua nhà cho ông T6 tổng cộng là 350 (ba trăm năm mươi) lượng vàng SJC và căn nhà số E H, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời vào thời gian này ông T6, ông N, bà H7, ông H3 và bà T là những người có đăng ký hộ khẩu thường trú đã bàn giao căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà quản lý sử dụng từ đó đến nay. Sau đó, theo yêu cầu của bên ông T6 bà tiếp tục giao căn nhà số A S, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện do ông N, bà H7 và các con sử dụng). Từ khi ký thoả thuận mua bán nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, bà đã thay mặt ông T6 liên hệ với các cơ quan chức năng tiến hành hoàn tất các thủ tục hợp thức hoá quyền thuê nhà, mua hoá giá nhà thuộc sở hữu nhà nước và đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004, Tờ khai lệ phí trước bạ ngày 11/10/2004 để hoàn tất được các thủ tục trên bà đã phải bỏ ra rất nhiều công sức và đã bỏ ra số tiền là 1.836.298.268 (một tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu hai trăm chín mươi tám ngàn hai trăm sáu mươi tám) đồng để đóng tiền mua hoá giá nhà thuộc sở hữu nhà nước và đóng trước bạ chủ quyền căn nhà trên. Trong quá trình hoàn tất thủ tục mua hoá giá nhà thuộc sở hữu nhà nước, tất cả những người có tên trên hợp đồng thuê nhà và có đăng ký thường trú tại căn nhà đã lập giấy thoả thuận đồng ý cho ông Hồ Chí T6 được toàn quyền làm thủ tục mua và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, do vậy Giấy chứng nhận số 0676/2004 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2004 chỉ ghi nhận một mình ông Hồ Chí T6 là chủ sở hữu và là tài sản riêng của ông T6, nên sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, đã có được các giấy tờ nêu trên và đã nhận toàn bộ số tiền bán nhà vào ngày 24/11/2004 ông Hồ Chí T6 đã lập tờ di chúc chỉ định bà C1 là người thừa kế duy nhất và hợp pháp căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt cùng ký tên của con là ông Hồ Hoàng N, con dâu là bà Trần Thanh H7 và hai nhân chứng là bà Trần Thị Minh T7 (cảnh sát khu vực) và ông Phạm Kim N3. Đến ngày 06/3/2005, ông T6 chết. Tờ di chúc của ông T6 lập ngày 24/11/2004 phát sinh hiệu lực, ông T6 không có thừa kế bắt buộc vì vậy bà là chủ sở hữu trọn vẹn căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc ông Trương Đình H khởi kiện ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7 với tư cách là người thừa kế theo pháp luật của ông Hồ Chí T6 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là không đúng đối tượng vì ông N, bà V tuy là người thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật của ông T6, nhưng khi còn sống ông T6 đã xác lập ý chí định đoạt tài sản là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà trọn quyền sở hữu sau khi ông T6 qua đời, do đó các đồng thừa kế của ông T6 không có quyền lợi và nghĩa vụ gì đối với di sản là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H7 là con của bà H5 nhưng bà H5 đã chết khi căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của Nhà nước không phải là tài sản chung của ông T6 và bà H5.
Ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7 trình bày: Ông bà có nghe ông T6 nói là có bán nhà F T, Phường B, Quận E cho bà Lê Thị C1, nhưng cụ thể việc mua bán như thế nào thì không biết. Bà C1 đã đưa trực tiếp và trả nợ thay cho ông T6 tổng cộng khoảng 300 (ba trăm lượng vàng) và căn nhà số E H để ông T6 và gia đình dọn về ở, sau đó bà C1 lấy lại và bán được 280 lượng vàng, căn nhà số A S là nhà của vợ chồng ông bà N cho bà C1 mượn để đem thế chấp ngân hàng vay 1,5 tỷ đồng và mượn hồ sơ nhà 14 Sư Vạn H8 vay 500.000.000 đồng, sau đó không có khả năng trả nợ nên ông, bà phải bán nhà 16 S để trả nợ thay cho bà C1 2 tỷ và bà C1 có viết giấy nợ cho ông bà là còn thiếu 280 lượng vàng là tiền đã bán căn nhà số E H và 2 tỷ đồng là tiền đã bán căn 16 Sư Vạn H8 trả nợ thay cho bà C1. Khi có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì bà C1 cầm xem và đưa cho ông Nguyễn Tất T3 cầm giữ luôn vì lý do ông T6 và bà C1 có ký giấy mượn tiền của ông T3 khoảng 2 tỷ đồng để đóng tiền hóa giá nhà. Ngày 24/11/2004, ông T6 có lập di chúc để lại căn nhà số F T cho bà Lê Thị C1, đúng là chữ viết và chữ ký của ông T6, ông T6 có kêu ông N và bà H7 ký tên. Ông N và bà H7 cho là khi viết và ký di chúc sức khỏe của ông T6 không tốt, tinh thần không minh mẫn. Việc mua bán nhà giữa ông T6 và bà C1 ông không biết, bà C1 yêu cầu công nhận quyền sở hữu đối với căn nhà F T, Phường B, Quận E đề nghị Tòa xử theo pháp luật. Ông N có nộp bản sao giấy bà C1 viết gởi cho ông ngày 03/01/2005 có nội dung bà C1 nợ vợ chồng ông số tiền là 280 lượng vàng SJC và 2.000.000.000 đồng là để chứng minh việc bà C1 không ngay thẳng trong việc mua bán, ông không khởi kiện bà C1 đòi lại số tiền này.
Bà Hồ Thị Hoàng V trình bày: Việc mua bán nhà giữa ông T6 và bà C1 bà không biết. Bà C1 đề nghị công nhận quyền sở hữu của bà đối với căn nhà F T đề nghị Tòa xử theo pháp luật.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 22/3/2006 và Đơn đề nghị ngày 23/3/2006, ông Nguyễn Tất T3 trình bày: Ngày 06/10/2004, ông Hồ Chí T6 và bà Lê Thị C1 có vay của ông 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng để đóng tiền hóa giá nhà F T, Phường B, Quận E. Số tiền này ông cầm đi cùng ông N, bà H7 (là con dâu của ông T6) và bà T7 (là công an khu vực Phường B, Quận E) để nộp tiền hóa giá nhà. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở bà H7 đi nhận về, khi giao cho ông giữ có bà H7, ông N, bà C1, bà T7 chứng kiến. Hiện ông đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; bản chính kê khai thuế trước bạ nhà số F T, Phường B, Quận E, ông không nộp cho Tòa án được vì đây là để bảo đảm số nợ của ông T6 và bà C1, ông cam đoan không đem cầm cố hoặc thế chấp cho ai khác. Trong vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa ông Trương Đình H và bà Trần Thanh H7, ông Hồ Hoàng N ông không có ý kiến gì, không khởi kiện bà C1 và các thừa kế của ông T6 đòi số nợ 2 tỷ, khi nào bà C1 và các thừa kế của ông T6 trả hết tiền cho ông thì ông sẽ trả bản chính của giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhà số F T, Phường B, Quận E. Vì điều kiện phải trị bệnh ở xa nên ông xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa xét xử.
Bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà Lê Thị C1 có đưa cho bà cầm bản chính Tờ di chúc ngày 24/11/2004 của ông Hồ Chí T6 để vay của bà số tiền là 107 (một trăm lẻ bảy) lượng vàng SJC. Trong vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa ông Trương Đình H với bà Trần Thanh H7 và ông Hồ Hoàng N, bà không có ý kiến gì, bà C1 hứa sau khi giải quyết xong vụ kiện này bà C1 sẽ trả hết nợ cho bà, do đó bà không khởi kiện bà C1, bà C1 trả hết nợ thì bà trả lại tờ di chúc.
Nhân chứng – bà Trần Thị Minh T7 trình bày: Ngày 24/11/2004, trước mặt ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7, hai nhân chứng là bà và ông Phạm Kim N3. Ông Hồ Chí T6 đã đọc lại bản di chúc đã được đánh máy, tự ông T6 viết thêm câu “Tôi là Hồ Chí T6 hiện nay còn minh mẫn sáng suốt tôi cùng các con tôi đồng ý ký tên với nội dung di chúc này đúng theo tâm niệm của tôi” và tự ông T6 ký tên và lăn tay. Lúc viết và ký di chúc sức khỏe ông T6 tốt, minh mẫn sáng suốt. Sau khi ông T6 ký xong bản di chúc thì ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7 ký tên, bà và ông N3 cùng ký tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Kim N3 xin vắng mặt tại phiên tòa. Biên bản ghi lời khai tại Tòa án nhân dân Quận 5 ngày 08/5/2006 ông N3 trình bày: Ngày 24/11/2004, trước mặt ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7, hai nhân chứng là bà Trần Thị Minh T7 và ông, ông Hồ Chí T6 đã đọc lại bản di chúc đã được đánh máy, tự ông T6 viết thêm câu “Tôi là Hồ Chí T6 hiện nay còn minh mẫn sáng suốt tôi cùng các con tôi đồng ý ký tên với nội dung di chúc này đúng theo tâm niệm của tôi” và tự ông T6 ký tên và lăn tay. Lúc viết và ký di chúc sức khỏe ông T6 tốt, minh mẫn sáng suốt. Sau khi ông T6 ký xong bản di chúc thì ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7, bà Trần Thị Minh T7 và ông ký tên.
Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2006/DS-ST ngày 19/5/2006 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ngày 23/01/1994 và Hợp đồng thuê nhà ngày 24/01/1994 đối với căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Hồ Chí T6, bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 về việc buộc người thừa kế của ông Hồ Chí T6 và bà Trần Thị Tuyết H5 phải trả lại giá trị 1/4 căn nhà F T H, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 636,030 (sáu trăm ba mươi sáu lượng ba phân) vàng SJC.
- Công nhận bà Lê Thị C1 là người thừa kế hợp pháp theo di chúc của ông Hồ Chí T6. Căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị C1 có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp. Bà C1 được quyền dùng bản án này liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để khai di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lê Thị C1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Trương Đình H số tiền 80.000 đô la Mỹ quy đổi ra tiền đồng Việt nam là 1.277.360.000 (một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn) đồng trả một lần tại Thi hành án dân sự Quận E khi án có hiệu lực pháp luật.
- Tách giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu về việc bà C1 và ông T6 vay tiền của ông Nguyễn Tất T3 và ông T3 giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; việc bà C1 vay tiền của bà Nguyễn Thị C và bà C cầm bản chính tờ di chúc của ông Hồ Chí T6; việc bà C1 viết giấy nợ ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7.
- Án phí dân sự sơ thẩm ông H và bà T2 phải nộp là 34.627.060 (ba mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn sáu mươi) đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã đóng là 16.294.100 (mười sáu triệu hai trăm chín mươi bốn ngàn một trăm) đồng theo Phiếu thu số 002850 ngày 02/6/2005 của Thi hành án dân sự Quận E. Ông H và bà T2 còn phải nộp thêm 18.332.960 (mười tám triệu ba trăm ba mươi hai ngàn chín trăm sáu mươi) đồng. Bà C1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 28.277.360 (hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn ba trăm sáu mươi) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà C1 đã nộp là 24.732.306 (hai mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn ba trăm lẻ sáu) đồng theo Phiếu thu số 003304 ngày 6/12/2005 của Thi hành án dân sự Quận E, bà C1 còn phải nộp thêm 3.545.054 (ba triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn đồng năm mươi bốn) đồng. Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/5/2006, ông Trương Đình H có đơn kháng cáo; ngày 01/6/2006, ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7 và bà Hồ Hoàng V có đơn kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Đình H, ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7, bà Hồ Thị Hoàng V; giữ y quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
- -Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Đình H buộc người thừa kế của ông Hồ Chí T6 phải thực hiện hợp đồng bán nhà F T cho ông H hoặc phải bồi thường 1/4 giá trị căn nhà là 636,030 lượng vàng SJC;
- -Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, lập ngày 23/01/1994 giữa ông Trương Đình H với ông Hồ Chí T6 và bà Trần Thị Tuyết H5 (H6) là giao dịch dân sự đã vô hiệu về nội dung;
- - Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị C1;
- - Công nhận Di chúc lập ngày 24/11/2004 của ông Hồ Chí T6 để lại căn nhà F T cho bà Lê Thị C1 thừa kế;
- - Bà Lê Thị C1 được thừa kế căn nhà F T, Phường B, Quận E của ông Hồ Chí T6 chết để lại và bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Trương Đình H trị giá 80.000 USD bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.277.360.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Tính từ khi ông H có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà C1 chưa trả hết số tiền trên, bà C1 còn phải trả lãi theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng N7 công bố tương ứng với thời gian, số tiền chậm trả;
- - Các quan hệ khác của các đương sự trong vụ án, có liên quan đến vay, nợ, mua, bán căn nhà F T và ông Hồ Chí T6 không có yêu cầu Toà án giải quyết, Toà án không giải quyết. Nếu có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục chung. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7 có đơn khiếu nại, đề nghị Toà án nhân dân Tối cao xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Quyết định giám đốc thẩm số 369/2008/DS-GĐT ngày 26/11/2008 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” đã chấp nhận chấp nhận kháng nghị số 255/2008/KN-DS ngày 08/9/2008 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao;
Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2006/DS-ST ngày 19/5/2006 của Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 15/3/2011, Tòa án nhân dân Quận 5 thụ lý vụ án số 27/2008/TLST-DS và xét xử lại vụ án theo trình tự sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2011/DS-ST ngày 22/3/2011 của TAND Quận 5 xử:
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V đưa lại cho ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 80 lượng vàng SJC.
- Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24 tháng 11 năm 2004 để lại di sản thừa kế là căn nhà F T, Phường B, Quận E cho bà Lê Thị C1 là vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 được lập ngày 27/11/1999 và ngày 27/6/2000 là giao dịch dân sự đã vô hiệu về nội dung. Ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V được hưởng di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V có nghĩa vụ trả lại cho bà Lê Thị C1 50% giá trị căn nhà F T Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá thị trường tại thời điểm thi hành án.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 đã sang tên cho bà C1 ngày 08/12/2006. Các bên giao nhận nhà, tiền, vàng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà C1, ông H và bà T2 hoặc kể tử khi án có hiệu lực pháp luật mà ông N và bà V không thực hiện việc trả tiền nêu thì ông N và bà V còn phải chịu thêm lãi suất theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng N7 quy định tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Sau khi thi hành án xong ông N và bà V có thể tiến hành làm các thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhận tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các quan hệ khác của các đương sự trong vụ án, có liên quan đến căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Hồ Chí T6 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục chung nếu còn thời hiệu khởi kiện.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Hoàng N và bà Hồ Thị Hoàng V cùng phải chịu án phí được hưởng di sản thừa kế là 90.424.499 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là 58.588.268 (năm mươi tám triệu năm trăm tám mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng, tổng cộng là 149.012.767 (một trăm bốn mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng. Bà Lê Thị C1 phải chịu án phí phần bị bác yêu cầu là 58.836.231 đồng, được trừ vào số tiền bà C1 đã đóng án phí trước đây là 28.277.000 đồng theo Biên lai số 009173 ngày 25/12/2006 bà C1 còn phải đóng án phí 30.559.231 đồng. H4 lại cho ông H và bà T2 số tiền dã đóng án phí trước đây là 34.627.000 (ba mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn) đồng.
Ngày 31/3/2011, bà C1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 18/4/2011, ông N3 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V trả thêm cho ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 80 lượng vàng SJC.
- Tuyên bố các Hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 được lập ngày 18/11/1999, ngày 27/11/1999, ngày 27/6/2000 và ngày 22/11/2004 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24/11/2004 để lại di sản thừa kế là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Công nhận ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V được hưởng di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hồ Hoàng N, bà Hồ Thị Hoàng V có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 số tiền vàng mà bà C1 đã chi ra để mua nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 630 lượng vàng SJC, trả tiền mua hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng, nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng và số tiền vàng bà C1 đã chi ra để thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC, thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD).
Kể từ khi bà C1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông N và bà V chưa trả số tiền 1.838.268.000 đồng, 100.000.000 đồng và 1.277.360.000 đồng nêu trên thì ông N và bà V còn phải trả thêm cho bà C1 tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N7 quy định tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
- Bà Lê Thị C1, ông Phạm Kim N3 và ông Nguyễn Thành H9 có trách nhiệm giao trả toàn bộ diện tích đang sử dụng tại nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Hồ Hoàng N và bà Hồ Thị Hoàng V.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004 đã sang tên cho bà C1 ngày 08/12/2006.
- Kiến nghị Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 thu hồi Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản số 05/THA ngày 28/12/2007 và Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản bổ sung số 07/CC-THA ngày 05/3/2008 về việc kê biên giá trị toàn bộ nhà và đất căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Sau khi thi hành án xong, ông N và bà V được quyền tiến hành làm các thủ tục, kê khai nhận di sản thừa kế đối với căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các quan hệ khác của các đương sự trong vụ án có liên quan đến căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Hồ Chí T6, bà Lê Thị C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục chung nếu có đủ điều kiện khởi kiện.
- Về án phí dân sự:
Ông Hồ Hoàng N và bà Hồ Thị Hoàng V cùng phải chịu án phí được hưởng di sản thừa kế là 90.424.499 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là 58.588.268 đồng, tổng cộng là 149.012.767 đồng. Thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông N và bà V đã nộp 100.000 đồng án phí (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.000 đồng theo Biên lai số 7198 ngày 02/6/2006 và 50.000 đồng theo Biên lai số 7199 ngày 02/6/2006 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5), nên còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 148.912.767 đồng.
Bà Lê Thị C1 phải chịu án phí là 90.424.499 đồng. Thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bà C1 đã nộp án phí dân sự 28.277.000 đồng (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.732.306 đồng theo Biên lai số 3304 ngày 06/12/2005 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 và nộp thêm 3.545.000 đồng) nên còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 62.147.499 đồng.
Ông Trương Đình H bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành Bản án phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông H và bà T2 đã nộp án phí dân sự là 34.627.000 đồng, nên hoàn trả lại cho ông H và bà T2 số tiền đã đóng án phí là 34.627.000 đồng.
Hoàn trả lại cho bà Lê Thị C1 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nộp là 200.000 đồng theo Biên lai số 00210 ngày 04/4/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5.
Quyết định giám đốc thẩm số 81/2015/DS-GĐT ngày 24/3/2015 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” đã chấp nhận Quyết định kháng nghị số 359/2014/KN-DS ngày 23/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2011/DSST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán nhà” giữa nguyên đơn là ông Trương Đình H với bị đơn là ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 25/5/2015, Tòa án nhân dân Quận 5 thụ lý vụ án số 79/2015/TLST-DSST xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Nguyên đơn – ông Trương Đình H ủy quyền cho ông Lê Nguyên H1 trình bày: Nội dung sự việc thì ông H đã trình bày trong các bản tự khai trước đây. Do vậy, ông H1 không trình bày lại. Nay phía nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu bà Lê Thị C1 hoặc những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 (đã chết có những người thừa kế là ông Hồ Hoàng N và bà Hồ Thị Hoàng V), ông Hồ Hoàng N (đã chết có những người thừa kế là bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M), trong những người này nếu ai được sở hữu căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thì phải có trách nhiệm trả lại cho ông Trương Đình H số vàng là 90 lượng vàng SJC được quy đổi thành đồng Việt Nam tại thời điểm thanh toán.
Bị đơn – ông Hồ Hoàng N (chết ngày 10/01/2012) có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh S (chết ngày 10/02/2021, có vợ là bà Ôn Ngọc L chết ngày 24/6/2021, có con là Hồ Thiện M), ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và bị đơn – bà Trần Thanh H7 trình bày như sau: Ngày 23/01/1994, ông Hồ Chí T6, bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H có làm hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 350.000 USD và ông H có đặt cọc là 80.000 USD (tám mươi ngàn đô la Mỹ). Nhưng ngày 24/01/1994, hai bên lập lại bằng hợp đồng thuê, số tiền cọc 80.000 USD thành tiền thuê, nhưng vậy là đã chấm dứt hợp đồng mua bán nhà F T giữa ông T6, bà H5 và ông H. Sau đó ngày 11/5/1994 ông T6, ông lại lập “Lời giao ước cam kết” mua bán nhà số H L với giá 500 lượng vàng thay cho việc bán, thuê nhà F T, số tiền 80.000 USD được tự chuyển sang tiền đặt cọc mua bán nhà số H L. Số tiền 80.000 USD nêu trên cũng đã giải quyết theo đơn tố cáo của ông H đối với ông T6 bằng kết quả trả 4 kỳ, mỗi kỳ 40 lượng vàng SJC. Về số tiền 80.000 USD quy ra tiền việt là 1.277.360.000 đồng ông H đã nhận đủ tại Thi hành án dân sự Quận E từ năm 2006. Nay ông H yêu cầu người được thừa hưởng căn nhà F T phải đưa cho ông 90 lượng bà H7 không đồng ý vì ông H không có liên quan hay có bất cứ quyền lợi gì đến việc mua bán căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn yêu cầu Tòa án tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lê Thị C1. Tuyên các Hợp đồng mua bán nhà đất số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 lập ngày 18/11/1999, ngày 27/11/1999, ngày 27/6/2000 và ngày 22/11/2004 là vô hiệu và đề nghị giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu; Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24/11/2004 để lại di sản thừa kế là nhà, đất số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1 là vô hiệu. Xác định toàn bộ nhà, đất theo bản vẽ hiện trạng tọa lạc tại F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thanh H7 và các đồng thừa kế của ông Hồ Hoàng N bao gồm: Ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M (thừa kế thế vị từ ông Hồ Thanh S) và phân chia theo quy định của pháp luật. Buộc bà Lê Thị C1 cùng toàn bộ những người chiếm giữ trái phép nhà đất nêu trên (nếu có) phải giao trả lại tài sản là nhà đất tại số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho các đồng sở hữu tài sản như đã nêu. Buộc bà Lê Thị C1 hoàn trả cho các đồng sở hữu căn nhà nêu trên tiền thuê nhà theo giá thị trường kể từ thời điểm chiếm giữ căn nhà (tháng 12/1999) đến thời điểm xét xử vụ án, tạm tính đến tháng 3/2024 với mức thuê 10.000.000 đồng/tháng là 2.800.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lê Thị C1 yêu cầu Tòa án công nhận Di chúc do ông T6 lập ngày 24/11/2004, công nhận bà được sở hữu nhà F T Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Hoàng V (chết năm 2024), có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thu N2 và ông Nguyễn Chiến T1. Bà N2, bà V1 và ông T1 cùng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thu N1 đại diện trình bày: Bà Hồ Thị Hoàng V và ông Hồ Hoàng N là con của ông Hồ Chí T6, ông T6 và ông N đã chết, còn lại bà V bà H7 là vợ ông N, 03 người con của ông N là ông Hồ Thanh S, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T là những người thừa kế của ông T6. Ngày 28/10/2001, ông T6 được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 đối với căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay ông T6 chết, bà V và những người thừa kế của ông T6 xin được hưởng di sản thừa kế của ông T6 chết để lại là với căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng mua bán nhà đất số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 lập ngày 18/11/1999, ngày 27/6/2000 là vô hiệu; Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24/11/2004 để lại di sản thừa kế là nhà, đất số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1 là vô hiệu. Bà V và các đồng thừa kế đồng ý trả lại cho bà C1 số tiền, vàng mà bà C1 đã chi ra để mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh gồm: 630 lượng vàng SJC, tiền hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng, nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng và số tiền vàng bà C1 đã chi ra để thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC, thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Đề nghị bà C1, ông H, ông N3 đang sử dụng căn nhà F T có trách nhiệm giao trả toàn bộ diện tích 371,45 m² cho những người thừa kế của ông T6.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Kim N3 trình bày: Bà Lê Thị C1 là người sở hữu căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 0676/2004 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp, cập nhật ngày 08/12/2006. Ngày 22/12/2006, bà C1 đồng ý cho ông N3 mượn mặt bằng F T để kinh doanh, đồng thời ông N3 cho bà C1 mượn 100 lượng vàng SJC với thời gian là 5 năm kể từ ngày ký hợp đồng. Bà C1 đã nhận số vàng và ông N3 đã nhận mặt bằng để kinh doanh. Hết thời hạn hợp đồng bà C1 không trả ông N3 số vàng trên nên ông N3 vẫn tiếp tục sử dụng mặt bằng để kinh doanh. Năm 2012 ông N3 khởi kiện bà C1 tại Tòa án nhân dân Quận 5, bà C1 đồng ý trả cho ông 100 lượng vàng SJC và ông trả mặt bằng nhà cho bà C1 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 130/2012/QÐST-DS ngày 27/6/2012. Ngày 10/9/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 58/2012/QÐST-GĐT hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 130/2012/QĐST-DS ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân Quận 5, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 5 để xét xử sơ thẩm lại. Nay ông N3 yêu cầu Tòa án buộc bà C1 phải trả lại 100 lượng vàng SJC cho ông N3 thì ông N3 đồng ý trả lại mặt bằng 18,2m² cho chủ sở hữu nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Tất T3 có đơn xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử vụ án tại Tòa án nhân dân Quận 5 đề ngày 25/5/2010 do giữa ông T3 và bà C1 đã thỏa thuận trả nợ với nhau mà không cần Tòa án các cấp xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Hiếu K trình bày: Vào ngày 28/11/2006 ông K đưa cho bà C1 số vàng 126 lượng vàng SJC tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện nghĩa vụ của ông Hồ Chí T6 theo biên nhận số 016419 ngày 28/11/2006 của thi hành án. Ngày 23/11/2006 ông K đưa cho bà C1 số tiền 1.372.000.000 đồng và 123 lượng vàng SJC tương đương 1.500.000.000 đồng cho bà C1 để bà C1 đưa cho bà C nhận lại tài sản thế chấp gồm: 01 mặt tiền nhà đất diện tích 50 m² tọa lạc tại F T, tờ di chúc của ông T6 (bản chính), tờ cho nhà của ông T6 (bản chính). Ngày 24/11/2006, ông K có giao cho bà C1 số tiền 500.000.000 đồng và 280 lượng vàng SJC đương đương 2.190.000.000 đồng, tổng cộng là 2.690.000.000 đồng để bà C1 thanh toán nợ của ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7. Vào thời điểm trên ông K đưa bà C1 để thanh toán các khoản nợ liên quan đến căn nhà F T, Phường B, Quận E để hợp đồng mua bán nhà giữa ông K và bà C1 không còn ai tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ngân hàng N6 ủy quyền cho ông Lê Quang Trung đại D trình bày: Ngày 24/02/2020, A chi nhánh K1 và bà Lê Ngọc T4 (địa chỉ 2 L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) ký Hợp đồng tín dụng số 1903LAV201000044/HĐTD đồng thời ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 1903LAV-201000041/TC (Tài sản thế chấp hình thành trong tương lai là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai tọa lạc tại F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2004 do bà Lê Thị C1 làm chủ sở hữu). Bà Lê Ngọc T4 không trả được nợ, khoản vay chuyển sang quá hạn, A chi nhánh K1 đã khởi kiện bà Lê Ngọc T4 tại Tòa án Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 08/4/2013, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 17/2013/QÐST-DS-CNTT về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (nguyên đơn là Công ty TNHH MTV N6 hiện nay là Ngân hàng N6 với bị đơn là bà Lê Ngọc T4 trong việc tranh chấp về hợp đồng vay vốn. Theo đó: Bà Lê Ngọc T4 phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV N6 số tiền (tính đến ngày 29/3/2013) là: 14.557.059.722 (mười bốn tỷ năm trăm năm bảy triệu không trăm năm chín ngàn bảy trăm hai hai) đồng và tiếp tục trả lãi với mức lãi quá hạn theo HĐTD số 1903- LAV-201000044/HĐTD cho đến khi trả xong nợ. Thời hạn thanh toán là một tháng kể từ ngày 29/3/2013, hạn chót là 29/4/2013. Đến thời hạn trả nợ nếu bà Lê Ngọc T4 không thực hiện việc trả nợ hoặc trả không hết khoản nợ trên thì A được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý phong tỏa số tiền ông Lê Hiếu K được thi hành án theo Bản án số 901/2008/DSPT ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và theo Quyết định thi hành án số 06/QĐ-THA ngày 29/9/2008 của Chi cục Thi hành án dân sự dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bản án phúc thẩm số 901/2008/DSPT ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà giữa nguyên đơn – ông Lê Hiếu K và bị đơn – bà Lê Thị C1 đã tuyên (có liên quan đến tài sản tranh chấp) tại A chi nhánh K1). Theo đó: Buộc bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Lê Hiếu K số tiền đặt cọc để mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 27.455.000.000 đồng, bồi thường số tiền tương đương số tiền đã đặt cọc là 27.455.000.000 đồng. Tổng cộng bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Lê Hiếu K số tiền 54.910.000.000 (năm mươi bốn tỷ chín trăm mười triệu) đồng. Ngày 29/9/2008, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 06/QĐ-THA về việc thi hành án theo yêu cầu. Hiện nay tài sản là căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do U1 cấp ngày 28/10/2004 do bà Lê Thị C1 làm chủ sở hữu) đang thế chấp để vay vốn tại A chi nhánh K1. Số tiền gốc lãi tạm tính đến 31/8/2022 là: Gốc 8.900.000.000 đồng, lãi: 5.682.750.889 đồng. Tổng cộng: 14.582.750 (Mười bốn triệu năm trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi) đồng. Để đảm bảo việc thu hồi vốn cho Nhà nước, kính đề nghị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét tuyên buộc các bên liên quan thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A trước khi trả lại giấy tờ tài sản là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2004 do bà Lê Thị C1 làm chủ sở hữu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 145, Điều 640, khoản 1 Điều 650, Điều 653 và Điều 655 Bộ luật Dân sự năm 1996;
Căn cứ Điều 632, Điều 634, Điều 635, Điều 636, Điều 642, Điều 645, Điều 676 và khoản 2 Điều 685 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 116, 122, 123, 124 và 423 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ngày 23/1/1994 và Hợp đồng thuê nhà ngày 24/1/1994 đối với căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Hồ Chí T6, bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 về việc buộc người thừa kế của ông Hồ Chí T6 và bà Trần Thị Tuyết H5 thanh toán cho ông H, bà T2 số tiền 90 lượng vàng SJC.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn – ông Hồ Hoàng N chết có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M và bị đơn – bà Trần Thanh H7.
- Tuyên bố các hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 được lập ngày 18/11/1999, ngày 27/11/1999, ngày 27/6/2000 và ngày 22/11/2004 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24/11/2004 để lại di sản thừa kế là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Công nhận căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 0676/2004 ngày 28/10/2004 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho ông Hồ Chí T6 và Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh và bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 09/12/2024) là di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 chết để lại.
Xác định người thừa kế của ông Hồ Chí T6 là ông Hồ Hoàng N, ông Hồ Hoàng N chết có những người thừa kế gồm bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M. Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thanh S mỗi người được nhận 25% giá trị nhà tương đương 19.022.250.000 đồng, riêng phần của ông Hồ Thanh S được chia cho bà Trần Thanh H7 và ông Hồ Thiện M mỗi người nhận 12,5% giá trị nhà tương đương 9.511.125.000 đồng.
Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 tiền mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền bà C1 đã thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Tổng cộng số tiền phải trả là 56.454.360.000 (năm mươi sáu tỷ bốn trăm năm mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi ngàn) đồng.
Sau khi hoàn tất các nghĩa vụ trên, bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục kê khai di sản thừa kế để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đối với nhà, đất tại số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu bà Lê Thị C1 hoàn trả cho các đồng sở hữu căn nhà nêu trên tiền thuê nhà theo giá thị trường kể từ thời điểm chiếm giữ căn nhà (tháng 12/1999) đến thời điểm xét xử vụ án, tạm tính đến tháng 3/2024 với mức thuê 10.000.000 đồng/tháng là 2.800.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị C1 về việc công nhận quyền sở hữu của bà C1 đối với căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 phải thanh toán cho bà C1 số tiền, vàng đã bỏ ra mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh gồm: 280 lượng vàng SJC tiền bán căn nhà E H, trả tiền mua hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng, nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng và số tiền vàng bà C1 đã chi ra để thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC.
Buộc bà Lê Thị C1 và những người đang cư trú tại căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh phải dọn dồ đạc ra khỏi nhà, tháo dỡ 03 kiot phía trước nhà và giao trả lại căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 là ông Hồ Hoàng N có bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M là những người thừa kế.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị Hoàng V có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là: Bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thu N2 và ông Nguyễn Chiến T1 về việc yêu cầu được hưởng di sản của ông Hồ Chí T6 chết để lại là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các quan hệ khác của các đương sự trong vụ án, có liên quan đến căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Hồ Chí T6 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục chung nếu còn thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, những người tham gia tố tụng có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 44/2025/DSST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
Ngày 09/4/2025, ông Trịnh Anh Q là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trần Thanh H7. Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh S, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn – ông Hồ Hoàng N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Không buộc bà Trần Thanh H7 và các con phải hoàn trả cho bà Lê Thị C1 350 lượng vàng SJC tương đương 34.265.000.000 đồng và số tiền thiệt hại do giá chuyển nhượng là 20.910.000.000 đồng.
Ngày 08/4/2025, bà Nguyễn Thị Thu N1 là người đại diện theo ủy quyền cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hồ Thị Hoàng V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu: Hủy một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 10/4/2025, bà Lê Thị C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu: Trả lại tài sản căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1.
Ngày 08/4/2025, Ngân hàng N6 (A) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Nam T5 kháng cáo với nội dung:
- Xem xét lại bản án để đảm bảo quyền lợi của A với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Trong trường hợp chủ tài sản là bà Lê Thị C1 phải hoàn trả căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời được hoàn trả số tiền tương đương số tiền đã đặt cọc là 27.455.000.000 đồng. Tổng cộng bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Lê Hiếu K số tiền 54.910.000.000 đồng theo Bản án phúc thẩm số 901/2008/DSPT ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để A thu hồi nợ theo quy định.
- Đề nghị Tòa án tuyên bà Lê Ngọc T4 có trách nhiệm trả nợ cho A số tiền 18.056.233.333 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 06/01/2025 đến khi bà Lê Ngọc T4 trả hết nợ cho A và sau khi thu hồi khoản nợ A có trách nhiệm bàn giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do U1 cấp ngày 28/10/2004 cho bên thế chấp.
Ngày 08/4/2025, ông Lê Hiếu K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu: Tiếp tục phong tỏa số tiền mà những người được hưởng di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 phải trả cho bà Lê Thị C1 để đảm bảo việc thi hành án cho Bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đó. Trong trường hợp những người được thừa kế di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 không có tiền hoàn trả cho bà Lê Thị C1 thì vẫn phải duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thực hiện hành vi mua bán, chuyển dịch về quyền sở hữu, tặng cho, thế chấp căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh” để đảm bảo việc thi hành án.
Ngày 10/4/2025, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DSST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung đề nghị:
“... Xác định những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 gồm bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M. Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M mỗi người được nhận 25% giá trị nhà tương đương 19.022.250.000 đồng, riêng phần của ông Hồ Thanh S được chia cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thiện M mỗi người nhận 12,5% giá trị nhà tương đương 9.511.125.000 đồng” là có cơ sở.
Tuy nhiên, bản án buộc “Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 tiền, vàng đã bỏ ra mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh gồm là 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền bà C1 đã thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Tổng cộng số tiền phải trả là 56.454.360.000 đồng” là chưa đủ, còn thiếu 280 lượng vàng SJC (trị giá căn nhà E H). Do bản án không buộc những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 trả cho bà C1 280 lượng vàng SJC dẫn đến việc xác định thiệt hại để bồi thường cho bà C1 là chưa đúng.
Mặc khác, căn cứ Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy, bản án buộc “Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 tiền mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền bà C1 đã thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Tổng cộng số tiền phải trả là 56.454.360.000 đồng là chưa chính xác. Do đó, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm số 44/2025/DSST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng: Sửa bản án theo hướng phân tích nêu trên. Do bản án sửa phần nội dung nên cần xem xét sửa phần án phí đối với các đương sự được hưởng di sản thừa kế đối với nghĩa vụ trả các khoản tiền của bà C1.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sư vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị về việc yêu cầu bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M phải trả thêm cho bà Lê Thị C1 280 lượng vàng SJC số tiền mua nhà F T.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm đối với số tiền buộc bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M, mỗi người phải có trách nhiệm hoàn trả và bồi thường cho bà Lê Thị C1 phải tương ứng với tỷ lệ phần trăm di sản nhưng không vượt quá phần tài sản mà họ được hưởng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
Nguyên đơn – ông Trương Đình H khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán nhà với bị đơn – ông Hồ Hoàng N và bà Trần Thanh H7, do bị đơn đang cư trú tại Quận E và bất động sản tranh chấp tại Quận E nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc xét xử vắng mặt của những người tham gia tố tụng và không đưa những người có đơn yêu cầu tham gia là có căn cứ.
[2]. Đối với yêu cầu kháng cáo của các đương sự:
[2.1]. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán nhà F T, ông T6 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; giữa ông T6 và ông H còn đang tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng thuê nhà số F T. Vì vậy, hợp đồng mua bán nhà ký kết giữa ông T6 và bà C1 là vô hiệu và Di chúc của ông T6 lập ngày 24/11/2004 có nội dung trái pháp luật được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 655, điểm đ khoản 1 Điều 656 của Bộ luật Dân sự năm 1995 nên di chúc không được coi là di chúc hợp pháp.
Về hình thức của việc lập di chúc: Theo lời khai của bà Trần Thị Minh T7 (là người ký làm chứng vào bản di chúc) lại có mâu thuẫn, không thống nhất, có lúc bà T7 cho rằng lúc ông T6 lập di chúc có mặt cả ông N, bà H7 (BL 255), có lúc bà T7 lại cho rằng lúc bà xác nhận không có ông N, nhưng lúc đó bà H7 ký xong mang về cho ông N ký (BL 419); ông N, bà H7 cũng có lời khai cho rằng lúc ký di chúc không có mặt 2 người làm chứng nhưng sau đó bà C1 đã tự đưa 2 người làm chứng vào; nên không đủ căn cứ để cho rằng bà T7 là nhân chứng có mặt khi ông T6 lập di chúc.
Về quan hệ giữa ông T6 và bà C1: Giữa ông T6 và bà C1 không có quan hệ thân thích, mà chỉ có quan hệ giữa bên bán và bên mua trong một hợp đồng mua bán nhà F T thể hiện ngày 27/11/1999, ông T6 và bà C1 ký “Bản thỏa thuận mua bán nhà” với nội dung ông T6 bán cho bà C1 căn nhà F T với giá 300 lượng vàng nhưng ông T6 phải thực hiện một số yêu cầu của bà C1, trong đó có việc làm chúc thư để lại mọi tài sản có liên quan cho người bà C1 chỉ định.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định thực chất quan hệ giữa ông T6 và bà C1 là quan hệ mua bán nhà số F T, việc ông T6 lập di chúc cho bà C1 toàn quyền sở hữu nhà F T là giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch mua bán nhà giữa ông T6 với bà C1 lập ngày 27/11/1999 và ngày 27/6/2000. Do đó, theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005) thì “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này”, nên di chúc của ông T6 cho bà C1 toàn quyền sở hữu nhà 672 T cũng bị vô hiệu do giả tạo.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị C1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà ký kết giữa ông Hồ Chí T6 và bà Lê Thị C1 và yêu cầu trả lại cho bà C1 căn nhà trên.
[2.2]. Đối với kháng cáo của bà Trần Thanh H7 là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hồ Hoàng N là bị đơn:
Bà Trần Thanh H7 kháng cáo: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Không buộc bà Trần Thanh H7 và các con phải hoàn trả cho bà Lê Thị C1 350 lượng vàng SJC tương đương 34.265.000.000 đồng và số tiền thiệt hại do giá chuyển nhượng là 20.910.000.000 đồng. Lý do, gia đình ông T6 chưa nhận 350 lượng vàng SJC. Các bên ghi nhận trên hợp đồng là để thực hiện. Tuy nhiên, bà C1 không thực hiện đúng cam kết cho nên ông T6 ngay sau đó mới khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà đã ký.
Xét thấy, ngày 27/11/1999, ông T6 và bà C1 ký “Bản thỏa thuận mua bán nhà” với thỏa thuận ông T6 và bà C1 thỏa thuận mua bán căn nhà số F T với giá 300 lượng vàng. Ngày 27/6/2000, ông T6, ông N và bà C1 tiếp tục ký “Phụ kiện thoả thuận mua bán nhà” với nội dung “...tính đến ngày 27/6/2000, bà C1 đã thanh toán cho ông T6 số tiền tất cả là 350 lượng vàng SJC, riêng căn nhà số E H, Phường B, Quận E bà C1 giao đứt cho vợ chồng và con ông N toàn quyền sử dụng không hoàn lại, vợ chồng ông N thay mặt ông T6 trong mọi trường hợp để hai bên hoàn tất thoả thuận mua bán căn nhà số F T”. Ngày 22/11/2004, ông T6, ông N, bà H7 ký cam kết bán căn nhà số F T cho bà C1 và đến ngày 24/11/2004 ông T6 ký di chúc với nội dung “sau khi ông T6 qua đời tài sản căn nhà F T là thuộc quyền sở hữu của bà C1”.
Theo lời trình bày của ông N, bà H7, bà C1 và ông T6 thỏa thuận mua bán nhà là 350 lượng vàng SJC nhưng chưa giao vàng, số tiền bà C1 trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC, thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD), nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng không liên quan đến tiền mua bán nhà, hơn nữa tiền mua hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng do bà H7 nộp chứ không phải bà C1. Riêng việc giao căn nhà 52 Huỳnh Mẫn Đ1 cho ông N, bà H7 trị giá 280 lượng vàng SJC không phải là tiền bán nhà. Trước đó bà C1 có cho ông N, bà H7 căn nhà E H, tuy nhiên bà C1 lấy lại nhà 52 Huỳnh Mẫn Đ1 và bán được 280 lượng vàng, căn nhà số A S là nhà của vợ chồng ông bà (N-H7) cho bà C1 mượn để đem thế chấp ngân hàng vay 1,5 tỷ đồng và mượn hồ sơ nhà 14 Sư Vạn H8 vay 500.000.000 đồng, sau đó không có khả năng trả nợ nên ông, bà phải bán nhà 16 S để trả nợ thay cho bà C1 2 tỷ và bà C1 có viết giấy nợ cho ông bà là còn thiếu 280 lượng vàng là tiền đã bán căn nhà số E H và 2 tỷ đồng là tiền đã bán căn 16 Sư Vạn H8 trả nợ thay cho bà C1.
Xét thấy, theo Bản thỏa thuận mua bán nhà ngày 27/11/1999, ông T6, bà C1 thống nhất số tiền mua bán nhà là 300 lượng vàng SJC, tại Phụ kiện thỏa thuận mua bán nhà ngày 27/6/2000 giữa ông T6 và bà C1 các bên cũng đã xác nhận “Trên cơ sở các điều khoản của bản thỏa thuận mua bán nhà ngày 27/11/1999 ký giữa ông Hồ Chí T6 và bà Lê Thị C1. Tính đến hôm nay ngày 27/6/2000 bà C1 đã thanh toán cho ông T6 số tiền tất cả là 350 lượng vàng SJC đã đủ. Riêng căn nhà số E H bà C1 giao đứt cho gia đình ông N, bà H7 toàn quyền sử dụng không hoàn lại”. Ngày 22/10/2004, ông T6, ông N, bà H7, ông S, bà T, ông H2 có làm tờ cam kết đồng ý ký tên bán đứt căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà C1. Đã thanh toán hết tiền (BL 215)
Tại Tờ trình về công nợ hai căn nhà 52 Huỳnh Mẫn Đ1, A Sư Vạn Hạnh Q do bà Lê Thị C1 lập ngày 13/01/2006 thể hiện: “Nguyên năm 1999 tôi Lê Thị C1 ở tại 1 Cô B, Phường C, Quận A có mua căn nhà F T, Phường B, Quận E của ông Hồ Chí T6, đã trả đủ 350 lượng vàng và đã ở tới nay là 6 năm. Riêng tôi có 02 căn nhà E Huỳnh Mẫn Đạt Q và A Sư Vạn Hạnh Q. Năm 2000 ngày 30.4.2000 con ông T6 là anh Hồ Hoàng N đi tù về, và vợ là Trần Thanh H7 cũng đi tù về tôi cho họ căn nhà 52 Huỳnh Mẫn Đ1 để ở, 2 năm sau này họ bán căn nhà này là 280 lượng vàng họ chi dụng 40 lượng trả ngân hàng, H7 15 lượng, Nam 30 lượng và có gửi lại 195 lượng cho tôi giữ dùm (sau này mua nhà cho ông T6)...”.
Đối với khoản tiền mua hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng, nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng, căn cứ Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước bằng tiền mặt số 0015180 ngày 07/10/2004 của Kho bạc Nhà nước thể hiện số tiền mua nhà SHNN theo PTT số 1194/PTT.1 ngày 27/9/2004 của Công ty Q1 Nhà là 1.818.177.068 đồng, người nộp tiền là bà Trần Thanh H7. Căn cứ Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước số 014666 ngày 11/10/2004 của Kho bạc Nhà nước thể hiện số tiền trước bạ nhà 2004 là 18.181.200 đồng, không thể hiện người ký nộp tiền. Bà C1 cho rằng bà C1 là người bỏ các khoản tiền trên nhưng bị đơn không thừa nhận, bà C1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện bà C1 là người nộp các khoản tiền trên nên yêu cầu của bà C1 là không có cơ sở xem xét.
Đối với số tiền thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Như đã nhận định ở trên, quan hệ mua bán nhà số F T đã được ông T6, cụ H5 và ông H đã được các bên tự nguyện chấm dứt bằng Giấy giao ước cam kết ngày 11/5/1994 với nội dung chuyển sang mua nhà số H L, vợ chồng ông Tín C3 có nghĩa vụ trả lại cho ông H 80.000 USD. Ngày 13/11/2006, bà Lê Thị C1 và ông Trương Đình H đã tự nguyện thỏa thuận thực hiện các nghĩa vụ theo nội dung Bản án phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà C1 thanh toán 1.277.360.000 đồng cho ông H theo phiếu chi số 316 ngày 17/11/2006. Do đó, buộc những người thừa kế di sản của ông T6 có nghĩa vụ trả lại cho bà C1 số tiền 1.277.360.000 đồng. Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà H7.
Đối với số tiền bà C1 trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC: Bà C1 không yêu cầu độc lập đối với số tiền này. Do đó, bà C1 được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Qua phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm có cơ sở không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Trần Thanh H7 như nêu trên.
[2.3]. Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu N1 là người đại diện theo ủy quyền cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hồ Thị Hoàng V là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu hủy một phần Bản án sơ thẩm.
Xét thấy bà Nguyễn Thị Thu N1 không đưa ra chứng cứ chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà N1 về việc yêu cầu hủy một phần Bản án sơ thẩm.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thi Thu N4, bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thu N2, ông Nguyễn Chiến T1 là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hồ Thị Hoàng V về việc yêu cầu được thừa kế căn nhà F T, Phường B, Quận E, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Ngày 28/3/2009 và ngày 31/3/2009 bà Hồ Hoàng V đã có bản cam kết với nội dung đã nhận đủ số tiền 1.500.000.000 đồng theo thỏa thuận phân chia di sản với vợ chồng ông Hồ Hoàng N, bà Trần Thanh H7, số tiền này tương đương toàn bộ phần di sản mà bà V được hưởng từ ông Hồ Chí T6 đối với căn nhà F T. Bà V cam kết bà V và những người thừa kế của bà V sau này không còn bất kỳ quyền lợi nào có liên quan đến nhà, đất tọa lạc tại F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V cam kết không khiếu nại hay tranh chấp hoặc đòi hỏi thêm quyền lợi gì về sau. Từ nội dung cam kết của bà V có thể xác định bà V đã tự thỏa thuận và nhận phần thừa kế của mình từ ông N, việc thỏa thuận này là tự nguyện và không trái pháp luật. Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà V yêu cầu được nhận thừa kế của ông T6 đối với căn nhà F T nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cam kết theo nội dung Bản cam kết ngày 28/3/2009 là bị lừa dối, ép buộc, đe dọa hoặc bất kỳ lý do bất khả kháng nào nên Tòa án cấp sơ thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu độc lập là có căn cứ.
[2.4]. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hiếu K và Ngân hàng N6 (A) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Hiếu H10 kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu: Tiếp tục phong tỏa số tiền mà những người được hưởng di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 phải trả cho bà Lê Thị C1 để đảm bảo việc thi hành án cho Bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đó. Trong trường hợp những người được thừa kế di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 không có tiền hoàn trả cho bà Lê Thị C1 thì vẫn phải duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thực hiện hành vi mua bán, chuyển dịch về quyền sở hữu, tặng cho, thế chấp căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh” để đảm bảo việc thi hành án.
A kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
- Xem xét lại Bản án để đảm bảo quyền lợi của A với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Trong trường hợp chủ tài sản là bà Lê Thị C1 phải hoàn trả căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời được hoàn trả số tiền tương đương số tiền đã đặt cọc là 27.455.000.000 đồng. Tổng cộng bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Lê Hiếu K số tiền 54.910.000.000 đồng theo Bản án phúc thẩm số 901/2008/DSPT ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để A thu hồi nợ theo quy định.
- Đề nghị Tòa án tuyên bà Lê Ngọc T4 có trách nhiệm trả nợ cho A số tiền 18.056.233.333 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 06/01/2025 đến khi bà Lê Ngọc T4 trả hết nợ cho A và sau khi thu hồi khoản nợ A có trách nhiệm bàn giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do U2 cấp ngày 28/10/2004 cho bên thế chấp.
Ông Lê Hiếu K khởi kiện bà Lê Thị C1 tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 901/2008/DSPT ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà giữa nguyên đơn – ông Lê Hiếu K, bị đơn – bà Lê Thị C1, theo đó: Buộc bà Lê Thị C1 phải trả cho ông Lê Hiếu K số tiền đặt cọc mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 27.455.000.000 đồng, bồi thường số tiền tương đương số tiền đã đặt cọc là 27.455.000.000 đồng. Tổng cộng bà Lê Thị C1 phải trả cho ông K số tiền 54.910.000.000 đồng.
Công ty TNHH MTV N6 và bà Lê Ngọc T4 có ký Hợp đồng tín dụng số 1903LAV201000044/HĐTD đồng thời ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 1903LAV-201000041/TC (Tài sản thế chấp hình thành trong tương lai là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai tọa lạc tại F T, phường B, Quận E, TP H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 do U1 cấp ngày 28/10/2004 do bà Lê Thị C1 làm chủ sở hữu). Bà Lê Ngọc T4 không trả được nợ, khoản vay chuyển sang quá hạn, A chi nhánh K1 đã khởi kiện bà Lê Ngọc T4 tại Tòa án Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 08/4/2013 Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định số 17/2013/QÐST-DS-CNTT về Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (nguyên đơn là Công ty TNHH MTV N6 (hiện nay là Ngân hàng N6 (A)) và bị đơn là bà Lê Ngọc T4) trong việc tranh chấp về hợp đồng vay vốn.
Xét thấy, tranh chấp giữa bà Lê Thị C1, ông Lê Hiếu K, bà Lê Ngọc T4 và Ngân hàng N6 đã được giải quyết bằng các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Tòa án nhân dân Quận 5 đưa ông K, bà T4 và Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do có liên quan đến bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004 do Ủy ban nhân dân Thành phố cấp cho ông Hồ Chí T6 đối với căn nhà số F đường T, Phường B, Quận E, đã đăng ký thay đổi tên chủ sở hữu là bà Lê Thị C1 hiện do Ngân hàng N6 giữ theo nội dung Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 1903LAV-201000041/TC.
Tuy nhiên, ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân Thành phố H đã ban hành Quyết định số 2008/QĐ-UB Quyết định về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số 0676/2004 ngày 28/10/2004 do Ủy ban nhân dân Thành phố cấp cho ông Hồ Chí T6, đã đăng ký thay đổi tên chủ sở hữu là bà Lê Thị C1. Ông K yêu cầu vẫn phải duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thực hiện hành vi mua bán, chuyển dịch về quyền sở hữu, tặng cho, thế chấp căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh” để đảm bảo việc thi hành án. Tuy nhiên, xét thấy trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn tạm thời như ông K trình bày. Do đó bà T4, ông K và Ngân hàng không còn liên quan trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hiếu K và Ngân hàng N6 (A) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.5]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về trách nhiệm hoàn trả tiền mua nhà và bồi thường thiệt hại:
Bản án sơ thẩm “... xác định những người thừa kế Xác định người thừa kế của ông Hồ Chí T6 là ông Hồ Hoàng N, ông Hồ Hoàng N chết có những người thừa kế gồm bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M. Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thanh S mỗi người được nhận 25% giá trị nhà tương đương 19.022.250.000 đồng, riêng phần của ông Hồ Thanh S được chia cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thiện M mỗi người nhận 12,5% giá trị nhà tương đương 9.511.125.000 đồng.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm buộc “Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 tiền mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền bà C1 đã thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Tổng cộng số tiền phải trả là 56.454.360.000 đồng” là chính xác nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên buộc bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M, mỗi người có trách nhiệm hoàn trả và bồi thường cho bà Lê Thị C1 phải tương ứng với tỷ lệ phần trăm di sản nhưng không vượt quá phần tài sản mà họ được nhận là không đúng.
Căn cứ Chứng thư thẩm định giá ngày 17/10/2023 của Công ty TNHH K2 thì giá trị nhà đất tại F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 76.089.000.000 đồng. Như vậy nhà, đất tại F T được chia cho 4 phần bằng nhau cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thanh S, mỗi phần được nhận 25% giá trị nhà tương đương 19.022.250.000 đồng, riêng phần của ông Hồ Thanh S được chia cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thiện M mỗi người nhận 12,5% giá trị nhà tương đương 9.511.125.000 đồng. Vậy bà Trần Thanh H7 được nhận giá trị di sản bằng 37,5% tương đương 28.533.375.000 đồng.
Xét các giao dịch mua bán nhà ở giữa ông T6 và bà C1 vô hiệu do vậy, bị đơn yêu cầu tuyên các hợp đồng mua bán nhà đất số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 lập ngày 18/11/1999, ngày 27/11/1999, ngày 27/6/2000 và ngày 22/11/2004 là vô hiệu và đề nghị giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu là có cơ sở chấp nhận. Do giao dịch mua bán nhà giữa bà C1 và ông T6, di chúc của ông T6 vô hiệu, ông T6 và bà C1 biết rõ tình trạng nhà 672 T nhưng vẫn ký kết hợp đồng mua bán nhà với ông T6. Do đó, các bên có lỗi ngang nhau trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu. Những người thừa kế của ông T6 có trách nhiệm hoàn trả cho bà C1 số tiền, vàng đã bỏ ra mua nhà 672 T, bà C1 có trách nhiệm trả lại nhà cho những người thừa kế của ông T6. Các bên chịu ½ thiệt hại là chênh lệch giá nhà theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát đối với trách nhiệm của những người thừa kế của ông Hồ Hoài N5 phải hoàn trả tiền mua nhà và bồi thường theo tỷ lệ phần trăm di sản mà mỗi người được hưởng. Cụ thể, xác định bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M, mỗi người có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Châu Ư ứng theo tỷ lệ di sản thừa kế mà mỗi người được hưởng đối với số tiền, vàng đã bỏ ra mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh gồm: 350 lượng vàng SJC và mỗi bên chịu thiệt hại là ½ chênh lệch giá nhà.
Giá trị nhà và đất theo chứng thư thẩm định giá là 76.089.000.000 đồng. Giá trị nhà thời điểm mua bán được xác định là 350 lượng vàng SJC x 97.900.000 đồng/lượng = 34.265.000.000 đồng. Giá trị thiệt hại được xác định là 76.089.000.000 đồng – 34.265.000 đồng = 41.824.000.000 đồng. Do các bên có lỗi tương đương nhau nên những người thừa kế của ông T6 và bà C1 mỗi bên chịu thiệt hại ½ của số tiền 41.824.000.000 đồng là 20.912.000.000 đồng. Do đó những người thừa kế của ông T6 phải hoàn trả cho bà C1 số tiền mua bán nhà 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử sơ thẩm là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền cho bà C1 đã thi hành án tra cho ông H 1.277.360.000 đồng, tổng cộng là 56.454.360.000 đồng. Do vậy, bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M hoàn trả cho bà Lê Thị C1 tương ứng tỷ lệ di sản thừa kế mà mỗi người được hưởng. Cụ thể: Bà Trần Thanh H7 hoàn trả cho bà Lê Thị C1 21.170.385.000 đồng, ông Hồ Thanh H2 và bà Hồ Thị Đoan T, mỗi người hoàn trả cho bà Lê Thị C1 14.113.590.000 đồng, ông Hồ Thiện M hoàn trả cho bà C1 7.056.795.000 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Trương Đình H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 116.811.000 đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận là 90 lượng vàng SJC. Tuy nhiên, do ông H là người cao tuổi và tại phiên tòa phúc thẩm, ông H đã nộp đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí cho ông H. Đây là tình tiết mới không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm không hoàn trả cho ông Trương Đình H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.247.100 (mười sáu triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn một trăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 2850 ngày 02 tháng 6 năm 2005 là có thiếu sót.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hồ Hoàng N là ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M phải chịu án phí hưởng di sản thừa kế và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1. Cụ thể: Ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, mỗi người phải chịu, mỗi người phải chịu án phí hưởng di sản thừa kế là 127.022.250 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là: 122.113.590 đồng. Mỗi người chịu 249.135.840 đồng.
Ông Hồ Thiện M phải chịu án phí được hưởng di sản thừa kế là 117.511.125 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là 115.056.795 đồng. Tổng cộng là 232.567.930 đồng.
Bà Trần Thanh H7, bà Lê Thị C1, bà Hồ Thị Hoàng V chết có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Nguyễn Thi Thu N4, Bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thu N2, ông Nguyễn Chiến T1 được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Bà Hồ Thị Hoàng V được miễn án phí theo quy định của pháp luật. H4 lại cho những người thừa kế của bà V số tiền bà V đã nộp 74.456.383 (bảy mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu ngàn ba trăm tám mươi ba) đồng trong tổng số tiền 148.912.767 (một trăm bốn mươi tám triệu chín trăm mười hai ngàn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng thi hành Bản án phúc thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Biên lai nộp tiền NSNN số 01501 ngày 24/11/2011).
Hoàn trả cho những người thừa kế của bà Hồ Thị Hoàng V 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số 0005455 ngày 07/8/2017 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm nên căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử hoàn trả cho các đương sự số tiền tạm ứng kháng cáo phúc thẩm đã nộp.
[5] Giữ nguyên các nội dung khác không bị kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Trần Thanh H7, bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Lê Thị C1, Ngân hàng N6 và ông Lê Hiếu K.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đối với xác định những người thừa kế của ông Hồ Hoài N5 có trách nhiệm hoàn trả tiền mua nhà và bồi thường cho bà Lê Thị C1 theo tỷ lệ phần trăm mà mỗi người được hưởng di sản thừa kế.
Đình chỉ xét xử phần kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về việc yêu cầu bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M phải hoàn trả thêm cho bà Lê Thị C1 280 lượng vàng SJC số tiền mua nhà F T.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 44/2025/DSST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ngày 23/1/1994 và Hợp đồng thuê nhà ngày 24/1/1994 đối với căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Hồ Chí T6, bà Trần Thị Tuyết H5 và ông Trương Đình H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 về việc buộc người thừa kế của ông Hồ Chí T6 và bà Trần Thị Tuyết H5 thanh toán cho ông H, bà T2 số tiền 90 lượng vàng SJC.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn – ông Hồ Hoàng N chết có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M và bị đơn – bà Trần Thanh H7.
- Tuyên bố các Hợp đồng mua bán nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Lê Thị C1 và ông Hồ Chí T6 được lập ngày 18/11/1999, ngày 27/11/1999, ngày 27/6/2000 và ngày 22/11/2004 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Tuyên bố Di chúc do ông Hồ Chí T6 lập ngày 24/11/2004 để lại di sản thừa kế là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị C1 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Công nhận căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 0676/2004 ngày 28/10/2004 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho ông Hồ Chí T6 và Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh và bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 09/12/2024) là di sản thừa kế của ông Hồ Chí T6 chết để lại.
Xác định người thừa kế của ông Hồ Chí T6 là ông Hồ Hoàng N, ông Hồ Hoàng N chết có những người thừa kế gồm: Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M.
Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thanh S mỗi người được nhận 25% giá trị nhà tương đương 19.022.250.000 (mười chín tỷ không trăm hai mươi hai triệu hai trăm năm chục ngàn) đồng. Riêng phần của ông Hồ Thanh S được chia cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thiện M mỗi người nhận 12,5% giá trị nhà tương đương 9.511.125.000 (chín tỷ năm trăm mười một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn) đồng. Tổng cộng bà Trần Thanh H7 được hưởng 28.533.375.000 (hai mươi tám tỷ năm trăm ba mươi ba triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng.
Bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị C1 tiền mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là 350 lượng vàng SJC quy ra tiền đồng Việt Nam vào thời điểm xét xử là 34.265.000.000 đồng, hoàn trả ½ thiệt hại là 20.912.000.000 đồng và trả lại tiền bà C1 đã thi hành án trả cho ông H 1.277.360.000 đồng (tương đương 80.000 USD). Tổng cộng số tiền phải trả là 56.454.360.000 (năm mươi sáu tỷ bốn trăm năm mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi ngàn) đồng. Mỗi người trả tiền cho bà Lê Thị C1 theo tỷ lệ phần trăm di sản thừa kế được hưởng. Cụ thể: Bà Trần Thanh H7 hoàn trả và bồi thường cho bà Lê Thị C1 số tiền 21.170.385.000 (hai mươi mốt tỷ một trăm bảy chục triệu ba trăm tám mươi lăm ngàn) đồng. Ông Hồ Thanh H2 và bà Hồ Thị Đoan T, mỗi người hoàn trả và bồi thường cho bà Lê Thị C1 số tiền 14.113.590.000 (mười bốn tỷ một trăm mười ba triệu năm trăm chín chục ngàn) đồng. Ông Hồ Thiện M hoàn trả và bồi thường cho bà Lê Thị C1 số tiền 7.056.795.000 (bảy tỷ không trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn) đồng.
Sau khi hoàn tất các nghĩa vụ trên, bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục kê khai di sản thừa kế để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà, đất tại số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu bà Lê Thị C1 hoàn trả cho các đồng sở hữu căn nhà nêu trên tiền thuê nhà theo giá thị trường kể từ thời điểm chiếm giữ căn nhà (tháng 12/1999) đến thời điểm xét xử vụ án, tạm tính đến tháng 3/2024 với mức thuê 10.000.000 đồng/tháng là 2.800.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị C1 về việc công nhận quyền sở hữu của bà C1 đối với căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 phải thanh toán cho bà C1 số tiền, vàng đã bỏ ra mua căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh gồm: 280 lượng vàng SJC tiền bán căn nhà E H, trả tiền mua hóa giá nhà là 1.838.268.000 đồng, nộp thuế trước bạ 100.000.000 đồng và số tiền vàng bà C1 đã chi ra để thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 1102/2006/DS-PT ngày 31/10/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trả nợ ông Lâm C2 thay cho ông T6 126 lượng vàng SJC.
Buộc bà Lê Thị C1 và những người đang cư trú tại căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh phải dọn dồ đạc ra khỏi nhà, tháo dỡ 03 kiot phía trước nhà và giao trả lại căn nhà số F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho những người thừa kế của ông Hồ Chí T6 là ông Hồ Hoàng N có bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M là những người thừa kế.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị Hoàng V có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là: Nguyễn Thi Thu N4, Bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thu N2, ông Nguyễn Chiến T1 về việc yêu cầu được hưởng di sản của ông Hồ Chí T6 chết để lại là căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các quan hệ khác của các đương sự trong vụ án, có liên quan đến căn nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Hồ Chí T6 không yêu cầu tòa án giải quyết. Nếu có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục chung nếu còn thời hiệu khởi kiện.
- Về án phí sơ thẩm:
Ông Trương Đình H và bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí. Hoàn trả cho ông Trương Đình H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.247.100 (mười sáu triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn một trăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 2850 ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Chi cục Thi hành án dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trần Thanh H7 được miễn án phí theo quy định của pháp luật. H4 lại cho bà Trần Thanh H7 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.000.000 (bốn mươi bốn triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0036068 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Hồ Thanh H2 và bà Hồ Thị Đoan T, mỗi người phải chịu án phí hưởng di sản thừa kế là 127.022.250 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là 122.113.590 đồng. Mỗi người chịu 249.135.840 (hai trăm bốn mươi chín triệu một trăm ba mươi lăm ngàn tám trăm bốn chục) đồng.
Ông Hồ Thiện M phải chịu án phí được hưởng di sản thừa kế là 117.511.125 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà C1 là 115.056.795 đồng. Tổng cộng là 232.567.930 (hai trăm ba mươi hai triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn chín trăm ba chục) đồng.
H4 lại cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T, ông Hồ Thiện M là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hồ Hoàng N số tiền ông N đã nộp 74.456.383 (bảy mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu ngàn ba trăm tám mươi ba) đồng trong tổng số tiền 148.912.767 (một trăm bốn mươi tám ngàn chín trăm mười hai ngàn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng thi hành Bản án phúc thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Biên lai nộp tiền NSNN số 01501 ngày 24/11/2011).
Bà Lê Thị C1 được miễn án phí theo quy định của pháp luật. H4 lại cho bà C1 số tiền án phí đã nộp là 28.277.000 (hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn) đồng. Tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.732.306 (hai mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn ba trăm lẻ sáu) đồng theo Biên lai thu số 3304 ngày 06/12/2005 và nộp thêm 3.455.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi lăm ngàn) đồng theo nội dung Bản án phúc thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số 00210 ngày 04/4/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Hồ Thị Hoàng V được miễn án phí theo quy định của pháp luật. H4 lại cho bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Nguyễn Thị Thu N2, ông Nguyễn Chiến T1 và bà Nguyễn Thị Thu V1 là những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà V số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp 74.456.383 (bảy mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu ngàn ba trăm tám mươi ba) đồng trong tổng số tiền 148.912.767 (một trăm bốn mươi tám triệu chín trăm mười hai ngàn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng thi hành Bản án phúc thẩm số 1276/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Biên lai nộp tiền NSNN số 01501 ngày 24/11/2011) và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số 0005455 ngày 07/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận bị đơn – bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh H2, bà Hồ Thị Đoan T và ông Hồ Thiện M tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí dịch vụ đo đạc và chi phí thẩm định giá nhà F T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí phúc thẩm dân sự:
Hoàn trả cho bà Trần Thanh H7, ông Hồ Thanh S, ông Hồ Thanh H2 và bà Hồ Thị Đoan T số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061310 ngày 09/4/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho bà Trần Thanh H7 số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061404 ngày 19/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061405 ngày 19/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061406 ngày 19/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho ông Lê Hiếu K số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061339 ngày 23/4/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Nguyễn Thị Thu N2, ông Nguyễn Chiến T1 và bà Nguyễn Thị Thu V1 số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061324 ngày 21/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho Ngân hàng N6 (A) số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo Biên lai thu số 0061333 ngày 22/4/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vân |
Bản án số 721/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt.
- Số bản án: 721/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt.
