TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 721/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 8 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Đôn.
- Bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án Hôn nhân gia đình và người chưa thành niên thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 394/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 449/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 393/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Trần Thanh S, sinh năm 1990.
Địa chỉ: 4/5/2/6A NVL, ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Tiền Cẫm C, sinh năm 2000.
Địa chỉ: 4/5/2/6A NVL, ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên hòa giải nguyên đơn ông Ngô Trần Thanh S trình bày: Ông và bà Tiền Cẫm C bắt đầu chung sống vào năm 2020, do hai bên tự nguyện đến với nhau và không tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25/5/2021. Hai bên chung sống hạnh phúc, khoảng năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, bà C không chăm sóc bỏ bê con, bà C bỏ nhà đi đâu không rõ và đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn tiếp tục chung sống nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà Tiền Cẫm C.
Về con chung: Ông S khai ông và bà C có với nhau có 01 (một) con chung tên là Ngô Tiền Gia H (giới tính nữ) sinh ngày: 06/01/2021 hiện nay đang sống với ông S.
Khi ly hôn, ông S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà C cấp dưỡng cho con;
Về tài sản chung: Ông S khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Ông S khai không có.
Ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Tiền Cẫm C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Trần Thanh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Ông Ngô Trần Thanh S nộp đơn xin ly hôn với bà Tiền Cẫm C tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Tiền Cẫm C hiện đang cư trú tại địa chỉ 4/5/2/6A NVL, ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bà Tiền Cẫm C đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng bà C vẫn vắng mặt; ông S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông S theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên bà C đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Bà C phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu xin ly hôn, lời trình bày của ông S và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
- Về quan hệ vợ chồng: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81 do Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/5/2021 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Ngô Trần Thanh S và bà Tiền Cẫm C là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông S xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà C để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của ông S hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của ông S thì quan hệ vợ chồng của ông S và bà C đã phát sinh mâu thuẫn từ lâu, nguyên nhân không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, bà C không quan tâm chăm sóc chồng con. Do vợ chồng không còn tiếng nói chung nên ông S và bà C đã không còn sống chung với nhau, sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ Công văn số 2529/UBND về việc xác minh tình trạng hôn nhân ngày 03/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh xác nhận:
“Đại diện chính quyền địa phương không rõ mâu thuẫn giữa ông S và bà C. Hiện các đương sự không chung sống tại địa chỉ nhà số 4/5/2/6A NVL, ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Có 01 người con chung, tên: Ngô Tiền Gia H, sinh ngày 06/01/2021 đang sinh sống cùng ông Ngô Trần Thanh S tại địa chỉ nhà số 4/5/2/6A NVL, ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặt khác, do bà C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà C vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện bà C không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông S đối với bà C.
- Về con chung: Ông Ngô Trần Thanh S xác nhận ông và bà C chung sống với nhau có 01 (một) con chung tên là Ngô Tiền Gia H (giới tính nữ) sinh ngày: 06/01/2021 hiện nay đang sống với ông S. Khi ly hôn, ông S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu bà C cấp dưỡng cho con chung.
Xét, ông S và bà C không có tranh chấp về quyền nuôi con và mức cấp dưỡng cho con, ông S xác nhận hiện con chung đang sống chung với ông. Đồng thời, kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/6/2024 xác nhận hiện con chung đang sống chung với ông S.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;”.
Do đó, Hội đồng xét xử giao trẻ Ngô Tiền Gia H (giới tính nữ) sinh ngày: 06/01/2021 cho ông S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, do bà C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà C đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Mặt khác, ông S không yêu cầu bà C cấp dưỡng cho con. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của ông S, nếu sau này các đương sự có tranh chấp về mức cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do ông S khai nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết còn bà C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
- Về án phí: Ông Ngô Trần Thanh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ngô Trần Thanh S đối với bà Tiền Cẫm C.
Ông Ngô Trần Thanh S được ly hôn với bà Tiền Cẫm C. Giấy chứng nhận kết hôn số 81 do Ủy ban nhân dân Phường 05, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/5/2021 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung tên là Ngô Tiền Gia H (giới tính nữ) sinh ngày: 06/01/2021 cho ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung đối với bà C cho đến khi ông S có yêu cầu.
Bà Tiền Cẫm C có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho bà C, ông S bằng một vụ án khác nếu ông bà có yêu cầu.
- Về án phí: Ông Ngô Trần Thanh S chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông S đã nộp theo biên lai thu số 0033754 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông S đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông S, bà C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND TP. HCM (1);
- - VKSND H.BC (2);
- - Chi cục THADS.HBC (1);
- - Các đương sự (4);
- - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (1);
- - Lưu hồ sơ (3).
2ΑΑΚΚΒΝ*ιιδχαφ+
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Sơn |
Bản án số 721/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 721/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
