Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn La
  2. Ông Đặng Thiều Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 11/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 đối với:

* Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy C, tên gọi khác: Không; sinh năm 1989;

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện T, TP . Hà Nội.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Đặng Thị L1, sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ Vũ Ngọc T, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bị xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

+ Tại Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 30 tháng tù theo Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm 6 tháng tù.

* Người bị hại: Chị Hoàng Thị V, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
  3. Anh Vũ Thanh H, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa năm 2020, chị Hoàng Thị V, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang có nhu cầu tìm hiểu thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987 ở tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (chồng chị V); anh Hoàng Văn N, sinh năm 1985, ở thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình (anh trai ruột của chị V) và anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1988 ở thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (bạn chị V). Thông qua mạng xã hội Facebook, chị V được Nguyễn Duy C, sinh năm 1989, ở Thôn A, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội có Facebook tên “Giả Làng” tư vấn về thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với tổng chi phí đi là 140.000.000 đồng, phải nộp trước 35.000.000 đồng tiền đặt cọc làm Visa, khi nào sang được Hàn Quốc lao động mới phải trả nốt số tiền còn lại. Thấy vậy, chị V nhờ C làm thủ tục xuất khẩu lao động đi Hàn Quốc cho anh T1, anh N và anh H1 thì C đồng ý. Chị V hẹn C đến nhà mình tại thôn Đ, thị trấn K, huyện L để đưa tiền.

Sáng ngày 05/7/2020, C đi xe khách từ Hà Nội đến nhà chị V, hôm đó chị V mời thêm anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989; anh Vũ Thanh H, sinh năm 1989 cùng thôn đến nhà ăn cơm cùng gia đình chị V. Quá trình ăn cơm tại nhà chị V, C tư vấn cho mọi người việc C có thể đưa được người đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc như đã tư vấn với chị V và chị V thống nhất chị V phải nộp cho C tổng 100.000.000 đồng tiền cọc làm Visa cho 03 người (C bớt cho 5.000.000 đồng), chị V đồng ý. Sau đó chị V dùng tài khoản 53210000932827 của mình, đăng ký tại ngân hàng B chuyển trước cho C 70.000.000 đồng vào tài khoản 100871129974 của C đăng ký tại ngân hàng V2, số tiền còn lại chị V sẽ chuyển khoản sau. Sau khi nhận được tiền C ra về.

Đến ngày 20/7/2020, C gọi điện yêu cầu chị Văn c nốt số tiền còn lại, chị V tiếp tục dùng số tài khoản 53210000932827 chuyển khoản cho C 30.000.000 đồng vào tài khoản 100871129974 của C. Sau khi chị V chuyển khoản, C đã nhận được số tiền trên nhưng C nói dối chị V là ngân hàng lỗi chưa nhận được tiền do tài khoản khác ngân hàng. C lấy lý do cần tiền gấp nên bảo chị Văn c lại cho C 30.000.000 đồng vào tài khoản 36010000353072, đăng ký tại ngân hàng B, mang tên Lù Thị C2 cho cùng ngân hàng với tài khoản của chị V, khi nào tài khoản V2 của C nhận được tiền C sẽ trả lại cho chị V, chị V đồng ý. Sau đó chị V tiếp tục chuyển khoản cho C 30.000.000 đồng vào tài khoản 36010000353072. Sau khi nhận đủ tiền C không làm V1 đi Hàn Quốc cho chị Văn n đã hứa hẹn mà sử dụng số tiền của chị V để chi tiêu cá nhân hết, sau đó một thời gian C cắt liên lạc với chị V.

Sau khi bị C lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chị V đã làm đơn trình báo đến Cơ quan điều tra đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Nguyễn Duy C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố đã nêu, giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra, trước phiên toà hôm nay bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Hoàng Thị V số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo nhận trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho chị V số tiền còn thiếu là 120.000.000 đồng.

Bị hại chị Hoàng Thị V xác nhận đã nhận số tiền bồi thường 10.000.000 đồng, chị yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại 120.000.000 đồng. Bản thân bị cáo đã hối hận nên chị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Những người làm chứng giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 10 năm 6 tháng tù tại Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt cho cả hai bản án là 14 năm 03 tháng đến 14 năm 06 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2023, được trừ thời gian tạm gữ từ ngày 17/02/2020 đến ngày 27/02/2020 tại Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo được nêu tại Cáo trạng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên ngày 05/7/2020, tại tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Duy C đã lừa dối chị Hoàng Thị V là làm được V1 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc cho người nhà chị V và chiếm đoạt của chị V số tiền 130.000.000 đồng.

Xét thấy bị cáo Nguyễn Duy C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì muốn có tiền để tiêu sài cá nhân mà bị cáo đã nói dối bản thân làm được Visa đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc để bị hại chị Hoàng Thị V tin tưởng giao tiền và chiếm đoạt của chị V số tiền 130.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự (chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, HĐXX thấy cần có hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Duy C là người có nhân thân xấu, tại Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tại Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 30 tháng tù theo bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Buộc C chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm 6 tháng tù. Bị cáo nhiều lần bị xét xử về cùng loại tội phạm nhưng không lấy đó làm bài học, từ đó cho thấy bị cáo là người không chịu rèn luyện, coi thường pháp luật.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Loại và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đề nghị là có căn cứ.

Bị cáo Nguyễn Duy C bị xét xử về hành vi đã phạm trước khi có Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Toa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, HĐXX quyết định hình phạt đối với tội danh này, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Hoàng Thị V 10.000.000 đồng. Chị V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 120.000.000 đồng. Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự, cần buộc bị cáo bồi thường cho chị V số tiền 120.000.000 đồng.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với người tên Lù Thị C2: Bị cáo khai không quen biết C2, chỉ biết C2 bán nước ở vỉa hè thành phố Hà Nội, C nhờ C2 nhận tiền rồi chuyển cho C, C không nói cho C2 biết về việc lừa đảo nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ, hình phạt, tội danh:

    Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 56; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Duy C chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 14 (mười bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2023, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/02/2020 đến ngày 27/02/2020 tại Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo Nguyễn Duy C phải bồi thường cho bị hại chị Hoàng Thị V số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:

    Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

    Bị cáo Nguyễn Duy C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000đ (sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện LG;
  • - Cơ quan THAHS Công an H. LG;
  • - Cơ quan điều tra Công an H. LG;
  • - VKSND, Sở TP tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger