|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/07/2024 V/v: “ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Vân
Bà Đinh Thị Thanh Giang
-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên.-Thư ký tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
Ngày 31 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân thụ lý số: 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Võ Thị Kim C, sinh năm 1993 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: I ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: anh Trần Huy T, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre
(chị C có yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt chị Võ Thị Kim C trình bày:
Chị và anh T sống chung năm 2016 có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2016. Sau hai năm chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T hay chơi game, không quan tâm chia sẻ với chị. Ghen tuông nghi ngờ thường hay cầm dao dọa chị. Chị và anh T đã sống ly thân nhau. Nay chị không còn tình cảm với anh T chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Chị bận công việc, chị yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt chị tại phiên tòa, chị vẫn giữ ý kiến ly hôn như trong đơn khởi kiện.
Bị đơn anh Trần Huy T trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh T đồng thời cũng không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Chị C và anh T tự nguyện chung sống năm 2016, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2016. Đây là hôn nhân hợp pháp. Chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải cho bị đơn anh Trần Huy T để hòa giải với chị C, nhưng anh T vắng mặt nên không thể tiến hành hoà giải được. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Trần Huy T vẫn vắng mặt không có lý do mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, đồng thời chị Võ Thị Kim C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị Kim C, anh Trần Huy T.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C, Hội đồng xét xử nhận thấy: Thực tế chị C và anh T đã sống ly thân nhau. Trong khoảng thời gian sống ly thân anh chị có thể suy nghĩ và bàn bạc phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh chị vẫn không làm được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T vẫn không đến tham dự phiên hoà giải. Điều đó cho thấy, anh T không thể hiện thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ, tại phiên tòa chị C yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim C.
[5] Về con chung: chị C trình bày không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
[6] Về tài sản chung: chị C trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
[7] Về nợ chung: chị C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
[8] Ghi nhận chị Võ Thị Kim C không yêu cầu anh Trần Huy T cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
[9] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị C phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim C đối với anh Trần Huy T.
Về hôn nhân: chị Võ Thị Kim C được ly hôn với anh Trần Huy T.
Về con chung: chị C trình bày không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung: chị C trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
Về nợ chung: chị C trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không xem xét.
Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị C phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000347 ngày 09 tháng 04 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ánh |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn C - T
