|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 72/2024/HS - ST Ngày: 30-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Thanh Miện, ông Bùi Thế Hanh
Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29,30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn A; sinh năm 2003; tên gọi khác: Không;
Nơi ở: thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp: 7/12;
Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975;
Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1977;
Vợ, con: Chưa có;
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003 (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Quốc B, sinh năm 1984(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đoàn Văn L, sinh năm 2003(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lưu Đức L1, sinh năm 1986(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị Như N, sinh năm 2009(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người giám hộ: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1956(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Trần Công Q, sinh năm 1994(có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
+ Người làm chứng:
- Anh Quàng Anh T2, sinh năm 2003(vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biện. - Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2006(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người giám hộ: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1997(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn A- sinh năm 2003 ở thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, biển kiểm soát 98D2- 011.67, số máy JA70E0211219, số khung RJHJA3932PY143771. Ngày 13/3/2024, A điều khiển xe mô tô đến nhà anh Lưu Đức L1- sinh năm 1986 ở thôn V, xã L vay anh L1 số tiền 5.300.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô làm tin. Đến giữa tháng 4 năm 2024, A nói với bạn là anh Đoàn Văn L- sinh năm 2003 ở thôn N, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang biết A có nhu cầu bán xe mô tô trên, anh L giới thiệu cho anh Quàng Anh T2- sinh ngày 04/8/2003 ở bản Mường Mươn, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, sau đó anh T2 lại giới thiệu cho anh Nguyễn Minh Đ- sinh năm 2003 ở tổ dân phố T, thị trấn B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để mua xe. Sau đó, anh T2 liên lạc thỏa thuận mua bán xe với A và hẹn chiều ngày 21/4/2024 gặp nhau ở sân bóng thôn C, xã L để xem xe. Do không có tiền để chuộc xe và chi tiêu nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của của người mua xe để trả anh L1 và lấy xe về bán cho người khác. Khoảng 17 giờ ngày 21/4/2024, A rủ bạn là anh Nguyễn Văn S- sinh ngày 16/7/2006 ở thôn C, xã L, huyện H cùng đi bộ đến sân bóng thôn C như đã hẹn với anh T2, khi đến nơi thì có anh T2 và anh Đ cùng ở đó. Tại đây, anh Đ thỏa thuận với A giá mua xe là 9.500.000 đồng và yêu cầu A cho xem xe thì A chỉ cho anh Đ xem ảnh của xe và nại ra lý do “xe mấy hôm trước bị công an bắt, anh rể vừa lấy về mất 6.000.000 đồng, giờ muốn lấy ra thì phải trả anh ấy 6.000.000 đồng”. Sau đó, A cùng các anh Đ, T2, S đến quán nước gần Trường tiểu học L2 ngồi uống nước, lúc này anh Đ yêu cầu A viết giấy cam kết xe bán không bị phạt nguội, không bị tai nạn hay liên quan gì đến pháp luật và đồng ý trả trước cho A 6.000.000 đồng. Lúc này, A nhắn tin cho anh L1 thoả thuận về việc chuộc xe và thống nhất A trả cho anh L1 số tiền 6.000.000 đồng thì anh L1 trả xe cho A. A bảo anh L1 gửi ảnh mã quét QR tài khoản Ngân hàng của anh L1 để A trả tiền. Sau đó, A nói dối anh Đ là chở A đến nhà anh rể để lấy xe nhưng thực tế là chở A đến nhà anh L1. Khi đi đến gần nhà anh L1, A bảo anh Đ dừng lại và gửi ảnh mã quét QR tài khoản Ngân hàng của anh L1 cho anh Đ để chuyển tiền và nói dối đấy là tài khoản của anh rể A và bảo anh Đ đứng đợi ở bên ngoài để Đ vào lấy xe một mình. Sau khi anh Đ chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào tài khoản của anh L1 thì A vào nhà anh L1 lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D2- 011.67 và quay ra ngoài chỗ anh Đ đứng đợi rồi mỗi người điều khiển một xe mô tô quay lại quán nước lúc trước gặp T2 và S. Sau đó, A tiếp tục nói dối anh Đ là về nhà lấy giấy tờ xe để có cơ hội bỏ trốn. Rồi A điều khiển xe mô tô của A chở anh T2, còn anh Đ chở anh S. Trên đường đi, A điều khiển xe đi nhanh để tạo khoảng cách với xe anh Đ, khi đến đầu ngõ gần nhà A, A giả vờ bảo anh T2 xuống xe đợi ở đầu ngõ để A vào nhà lấy giấy tờ xe. Khi anh T2 xuống xe, A không vào nhà mà điều khiển xe đi thẳng đến quán T4 ở thị trấn T, huyện H. Tại đây, A tháo biển kiểm soát 98D2- 011.67 ra và nhờ bạn là chị Nguyễn Thị Như N- sinh ngày 30/5/2009 ở thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên của quán) giữ hộ. Sau đó, A một mình điều khiển xe sang thành phố B chơi. Đến ngày 22/4/2024, A tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đến nhà anh Nguyễn Văn C1- sinh năm 1991 ở thôn V, xã L, huyện H vay anh C1 được 4.000.000 đồng và để lại xe làm tin. Ngày 29/4/2024, ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã L là bố đẻ A biết sự việc nên đã nhờ em vợ là anh Phạm Quốc B- sinh năm 1984 ở thôn K, xã L chuộc lại chiếc xe mô tô trên, anh B đã trả cho anh C1 số tiền 4.000.000 đồng.
Ngày 02/5/2024, anh Nguyễn Minh Đ có đơn trình báo Công an xã L, cùng ngày Công an xã L đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H.
Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho anh Nguyễn Minh Đ và Quàng Anh T2 nhận dạng qua ảnh đối với Nguyễn Văn A; kết quả anh Đ và anh T2 nhận dạng đúng Nguyễn Văn A là người lừa bán xe cho anh Đ ngày 21/4/2024.
Ngày 03/5/2024, anh Phạm Quốc B giao nộp cho Cơ quan điều tra xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, màu xanh, số máy JA70E0211219, số khung RJHJA3932PY143771. Ngày 22/5/2024, chị Nguyễn Thị Như N giao nộp biển kiểm soát 98D2- 011.67.
Ngày 20/5/2024, ngân hàng V- chi nhánh B1 cung cấp thông tin tài khoản 9968171456 tên anh Lưu Đức L1, sao kê giao dịch ngày 21/4/2024 thể hiện nhận chuyển khoản 6.000.000 đồng từ tài khoản 1026789638 chuyển đến; ngày 29/5/2024 ngân hàng V- chi nhánh H cung cấp thông tin tài khoản 1026789638 tên anh Nguyễn Minh Đ, sao kê giao dịch ngày 21/4/2024 thể hiện chuyển khoản 6.000.000 đồng đến tài khoản 9968171456.
Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Văn A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và đồng ý bồi thường cho anh Đ số tiền đã chiếm đoạt 6.000.000đồng Anh Nguyễn Minh Đ yêu cầu Hội đồng xét xử xét xử bị cáo đúng quy định pháp luật và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 6.000.000 đồng.
Cáo trạng số 70/CT-VKS-HH ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 03/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo A phải bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ số tiền 6.000.000đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm 2 khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số máy JA70E0211219, số khung RJHJA3932PY143771, biển kiểm soát 98D2- 011.67.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Khoảng 19 giờ ngày 21/4/2024, tại thôn V, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn A có hành vi gian dối lừa bán xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A biển kiểm soát 98D2- 011.67 để chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) của anh Nguyễn Minh Đ.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lòng tham, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả sức lao động của người khác. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của anh Đ, lừa bán xe cho anh Đ để chiếm đoạt số tiền 6.000.000đồng.
Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6]Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ số tiền 6.000.000đồng do bị cáo chiếm đoạt của anh Đ.
[7] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A biển kiểm soát 98D2- 011.67 là tài sản của bị cáo và là vật để bị cáo thực hiện việc giao dịch với bị hại, mục đích của bị cáo nhằm chiếm đoạt số tiền 6.000.000đồng của bị hại nên cần trả lại chiếc xe cho bị cáo. Tại thời điểm xét xử bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên cần tạm giữ chiếc xe để đảm bảo cho việc thi hành án là phù hợp với quy định pháp luật.
[8] Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hìnhsự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 09(chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 03/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, Điều 589 Bộ luật sự: Buộc bị cáo A phải bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ số tiền 6.000.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hìnhkhoản 3 Điều 106 Bộ luật Tốhình sự: Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số máy JA70E0211219, số khung RJHJA3932PY143771, biển kiểm soát 98D2- 011.67 cho bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 72/2024/HS - ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
