|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hợi
2. Bà Thân Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST- HS, ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: NGÔ VĂN DŨNG, sinh năm 1998
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị Q, sinh năm 2000; Con: có một con sinh năm 2019;
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Bị cáo Ngô Văn D bị bắt tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P.
(Có mặt tại phiên tòa)
-
Họ và tên: HOÀNG VĂN T, sinh năm 1998
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Q, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1973 và bà Hứa Thị V, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Bị cáo Hoàng Văn T2 bị bắt tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P.
(Có mặt tại phiên tòa)
-
Họ và tên: LÒ THỊ DUYÊN, sinh năm 1997
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản M, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn D1, sinh năm 1976 và bà Lò Thị C, sinh năm 1974; Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng: Chưa có; Con: có một con sinh năm 2020.
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Bị cáo Lò Thị D2 bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
-
Anh Dương Văn X, sinh năm 1977
Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
-
Chị Lê Thị Thúy K, sinh năm 2005
Trú tại: Tổ E, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
(Vắng mặt)
-
Chị Lăng Thị L1, sinh năm 2000
Trú tại: Thôn Q, xã Q, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 16/11/2020, Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Tô Thanh T3 cùng nhau đến hát Karaoke ở quán K2, có địa chỉ tại tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình hát thì các đối tượng đã gọi thêm các nhân viên rót bia là Lò Thị D2, Lê Thị Thúy K và Triệu Thị X1. T3 có rủ D, T2 đi sử dụng ma túy và được D, T2 đồng ý và rủ thêm K, D2 và X1 cùng đi nhưng X1 không đồng ý nên đã bỏ ra về trước. K đã nhắn tin rủ thêm Lăng Thị L1 đến để làm nhân viên phục vụ. Để có tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, T2 đã đưa cho D 520.000 đồng, T3 đưa cho D 640.000 đồng. Theo như lời trình bày của các bị cáo, sau khi nhận tiền, D đã gọi điện qua ứng dụng Messenger Facebook cho Dương Minh Đ, sinh năm 1997; Trú tại: xóm Đ, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, (hay còn gọi là Đ công tử) hỏi mua 02 viên thuốc lắc với giá 250.000 đồng/1 viên và 01 chỉ Ke (Ketamine) với giá 2.000.000 đồng, tổng là 2.500.000 đồng thì được Đ đồng ý.
D, T2, T3 cùng đến nơi ở của Đ ở gần cổng trường trung học phổ thông P và đưa cho Đ số tiền trên rồi cả nhóm rủ nhau đến nhà nghỉ Y thuê phòng để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Đến nơi, K đứng ra thuê phòng thì được chủ nhà nghỉ là anh Dương Văn X bố trí vào phòng nghỉ số 11. Sau khi vào phòng, Đ gọi điện qua ứng dụng Messenger Facebook cho D2 để D2 đi ra khu vực cổng nhà nghỉ gặp Đ nhận 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên thuốc lắc và 01 chỉ ke rồi mang vào phòng cho cả nhóm cùng nhau sử dụng. Sau khi có ma túy nhóm đã chia nhỏ 02 viên thuốc lắc thành 06 phần, D sử dụng một phần còn lại đưa cho T2, T3, D2, K, L1 mỗi người một phần để sử dụng bằng hình thức uống vào cơ thể. Khoảng 10 phút sau, D sử dụng bật lửa hơ nóng đĩa xứ rồi đổ ½ số K1 vào đĩa dùng chiếc thẻ nhựa miết đi miết lại trên đĩa cho K1 mịn ra (hay còn gọi là “Xào ke”). Thấy vậy, K bảo D cho Kiều học “Xào ke” rồi cũng dùng thẻ nhựa miết đi miết lại trên đĩa cho K1 mịn ra để có thể sử dụng được. Sau khi K xào ke xong, D đưa cho K tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng để K quấn thành dạnh ống rồi đưa đĩa sứ chứa Ketamine cho mọi người cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp bằng mũi vào cơ thể. Số ma túy còn lại, K cất giấu vào vị trí dưới đệm trong phòng để sau đó tiếp tục mang ra sử dụng. Các đối tượng cùng nhau ở lại phòng nghe nhạc đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 17/11/2020 thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P kiểm tra, phát hiện, tạm giữ: 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 30cm, bên trong đựng chất bột màu trắng dạng tinh thể (nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu A), 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Ngoài ra, quá trình kiểm tra còn phát hiện trên đệm dưới nền nhà 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng tinh thể (nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu B).
Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Phòng K3 Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng (nghi là ma túy) đã tạm giữ, kết quả: Tiến hành mở niêm phong ký hiệu A, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng tinh thể, cân khối lượng không bì được 0,223 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định (Mẫu A1). Mở niêm phong ký hiệu B, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng tinh thể, cân khối lượng không bì được 0,297 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định (niêm phong ký hiệu B1).
Tại bản kết luận giám định số 220 ngày 25/11/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng dạng tinh thể trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,223 gam; Mẫu chất bột màu trắng dạng tinh thể trong phong bì niêm phong ký hiệu B1 là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,297 gam”.
Quá trình điều tra các đối tượng Ngô Văn D, Tô Thanh T3, Hoàng Văn T2, Lê Thị Thúy K, Lò Thị D2, Triệu Thị X1 và Lăng Thị L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên.
Quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm do đánh giá chưa chính xác hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự sau đó đã xử lý vật chứng gồm: Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 30cm, 01 thẻ sim điện thoại màu trắng, 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong chứa 0,115 gam Ketamine hoàn lại sau giám định), 01 phong bì ký hiệu B1 (bên trong chứa 0,189 gam Ketamine hoàn lại sau giám định). Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Trả lại cho các bị cáo và các đối tượng có liên quan số điện thoại đã tạm giữ đến nay không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số: 68/CT-VKSPB, ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Lò Thị D2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Lò Thị D2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2 từ 08 đến 09 năm tù, xử phạt bị cáo Lò Thị D2 từ 07 đến 08 năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 17/11/2020, tại phòng số A, nhà nghỉ Y, thuộc thuộc xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Tô Thanh T3, Ngô Văn D, Hoàng Văn T2 đã có hành vi góp tiền mua được số ma túy gồm: 02 viên thuốc lắc, 01 chỉ Ketamine với tổng số tiền là 2.500.000 đồng, Lò Thị D2 có hành vi ra cổng nhà nghỉ lấy ma túy mang vào để cùng sử dụng với Lăng Thị L1 và Lê Thị Thúy K thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện, lập biên bản.
Xét, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo D, T2, D2 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức và biết được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Việc các bị cáo D, T2 có hành vi cùng góp tiền mua ma túy, Lò Thị D2 có hành vi đi nhận ma túy mang vào phòng nghỉ, để các bị cáo cùng với K, L1 tổ chức sử dụng ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo đã tổ chức cho nhiều người sử dụng ma túy, trong đó có Lê Thị Thúy K (Vào thời điểm sử dụng ma túy K mới được 15 tuổi 02 tháng 13 ngày) là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Lò Thị D2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
-
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Đối với 02 người trở lên;
- Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi
”
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, các bị cáo là những người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy là chất gây nghiện bị pháp luật nghiêm cấm, ma túy còn hủy hoại thể chất, tinh thần và đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về sức khỏe và đời sống xã hội, đồng thời cũng là tác nhân phát sinh các tội phạm khác.
Bị cáo D và T2 đã cùng góp tiền để mua ma túy, bị cáo D2 đi nhận ma túy mang vào phòng nghỉ, để các bị cáo cùng sử dụng ma túy với L1, K. Hành vi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về vị trí vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Hội đồng xét xử thấy đây là vụ án phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi bộc phát, không có sự bàn bạc phân công nhiệm vụ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo D và bị cáo T2 là người thực hiện hành vi tích cực, đã chủ động góp tiền mua ma túy cùng sử dụng, còn bị cáo D2 là người ra nhận ma túy mang ma túy vào trong phòng nghỉ để cùng sử dụng, nên vị trí vai trò của bị cáo D2 thấp hơn vị trí, vai trò của bị cáo D và T2.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, không có thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Đối với Dương Minh Đ là đối tượng mà các bị cáo khai đã bán ma túy cho các bị cáo để sử dụng. Quá trình điều tra Đ không thừa nhận đã bán ma túy cho các bị cáo. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Dương Minh Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
- Đối với Lê Thị Thúy K có hành vi thuê phòng nghỉ, nhắn tin rủ L1 đến để phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy, trực tiếp “Xào ke” trên đĩa sứ, quấn tờ tiền 20.000 đồng làm công cụ để các đối tượng cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi, K được 15 tuổi 02 tháng 13 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Đối với Lăng Thị L1 là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lăng Thị L1 theo quy định của pháp luật.
- Đối với Dương Văn X (chủ nhà nghỉ Y) là người trực tiếp cho các đối tượng thuê phòng số 11 để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, anh X không biết các đối tượng thuê phòng để làm gì nên hành vi không cấu thành tội phạm.
- Đối với Tô Thanh T3 là người có hành vi đồng phạm với các bị cáo, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T3. Tuy nhiên, T3 đã bỏ trốn chưa bắt được. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án đối với Tô Thanh T3 để điều tra, xử lý sau.
[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
[9]. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
[11]. Thông báo về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, pháp luật áp dụng:
- Điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Điều 46,47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Lò Thị D2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Ngô Văn D 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 22 tháng 3 năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T2 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 22 tháng 3 năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Lò Thị D2 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03tháng 4 năm 2024.
- Ra Quyết định tạm giam các bị cáo Ngô Văn D, Hoàng Văn T2, Lò Thị D2 với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Thủy |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKS ND huyện Phú Bình;
- - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
- - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
- - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
- - Các bị cáo;
- - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
