TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
Bản án số 72/2024/HS-STNgày 29 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Minh Sơn
- Ông Lê Trường Hận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Hữu Đ, (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1972 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số A, khóm F, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Dương Văn K, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Lý Thị Đ1, sinh năm 1936 (đã chết); có 04 người con (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2012);
- + Tiền án: 01 lần. Ngày 05/01/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (theo Bản án số 04/2023/HS-ST), chấp hành xong ngày 23/11/2023, chưa được xóa án tích.
- + Tiền sự: 01 lần:
- + Ngày 28/3/2024, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 16/QĐ-TA, ngày 06/02/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, đang chấp hành.
- + Nhân thân:
- + Ngày 24/10/1995, bị Tòa án nhân dân thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 55, chấp hành xong ngày 27/12/1995 và đã được xóa án tích.
- + Ngày 20/3/1996, bị Tòa án thị xã B, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 13, chấp hành xong ngày 30/8/1996 tại Trại giam C - Cà Mau và đã được xóa án tích.
- + Ngày 07/11/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 63/HS/ST, chấp hành xong ngày 04/12/1998 và đã được xóa án tích.
- + Ngày 01/02/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2005/HSST, chấp hành xong ngày 27/10/2006.
- + Ngày 28/10/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 113/2008/HSST, chấp hành xong ngày 30/4/2011.
- + Ngày 14/12/2015, bị Công an phường H1, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” số tiền 1.500.000 đồng.
- + Ngày 06/6/2016, bị can Đ bị Công an thành phố B xử phạt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 750.000 đồng.
- + Ngày 19/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 61/2016/HSST, chấp hành xong ngày 16/10/2016.
- + Ngày 13/7/2017, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu theo Quyết định số 45/QĐ-TA, ngày 13/7/2017, của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- + Ngày 21/11/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 101/2017/HSST, chấp hành xong ngày 18/4/2018.
- + Ngày 30/01/2020, bị đưa vào Cơ sở chửa bệnh bắt buộc 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu theo Quyết định số 139/QĐ-TA, ngày 04/11/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- + Ngày 20/10/2022, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 24/QĐ-TA, ngày 26/8/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- Bị cáo Dương Hữu Đ đang chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Bị hại: Ông Phạm Mộc K1 (S), sinh năm 1991. Địa chỉ: Số A, đường C, khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số I, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Hữu Đ không nghề nghiệp, lại nghiện ma túy, do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác đem bán. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 28/3/2024, Đ đi bộ trên các tuyến đường trong nội ô thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Khi đi đến trước nhà của ông Phạm Mộc K1, ở khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, Đ thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 94K1-163.02, của ông Phan Thanh H đang đậu trước nhà ông K1 và không có người trông coi. Đ liền đi đến dẫn bộ xe đi được khoảng 03m thì bị ông K1 phát hiện truy hô “Trộm, trộm” nên bỏ lại xe và chạy thoát. Lúc này, Công an phường A, thành phố B đang trên đường tuần tra, nghe tiếng truy hô đã đuổi theo bắt giữ Đ, đồng thời tạm giữ xe mô tô Đ đã lấy trộm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 09/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, số máy H12E-5054065, số khung RLHHC1212DY053957, biển số 94K1-163.02, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 28/3/2024 thì giá trị thành tiền còn lại của 01 chiếc xe mô tô như trên là: 9.600.000 đồng”.
Cáo trạng số 76/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Dương Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- + Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Dương Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- + Bị cáo Dương Hữu Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Quá trình điều tra đã có ghi lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đầy đủ, việc vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ xác định: Vì động cơ vụ lợi bất chính, khoảng 12 giờ, ngày 28/3/2024, tại khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Dương Hữu Đ đã có hành vi lấy trộm 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 94K1- 163.02 của ông Phan Thanh H đang do ông Phạm Mộc K1 quản lý, với giá trị tài sản là 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm ngàn đồng).
[4] Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đối với hành vi bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án chưa được xoá án tích nên đối với lần phạm tội này nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo và phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn nên áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông Phan Thanh H xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 94K1-163.02 theo quy định là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Thanh H và ông Phạm Mộc K1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Dương Hữu Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Dương Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Hữu Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Hữu Đ phải chịu 200.000 đồng.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Hồng Trinh |
Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Hữu Đ
