Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lệ và ông Nguyễn Quốc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Q (Quang C), sinh ngày 21 tháng 4 năm 1996; tại An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị N; vợ tên Nguyễn Tú Q1, có một người con sinh năm 2017; tiền sự: không; tiền án: Ngày 28/3/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong ngày 20/01/2023; nhân thân: Ngày 23/02/2012, U ban nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang ra quyết định số 299/QĐ-UB quyết định đưa Nguyễn Minh Q vào trường giáo dưỡng 2 năm; ngày 19/12/2014, Công an huyện P, tỉnh An Giang lập danh chỉ bản số 2188 về việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 104); ngày 13/09/2019, bị công an thị xã T, tỉnh An Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo QĐ số 6652 ngày 23/08/2019 về việc gây rối trật tự công cộng (Điều 318), lập danh chỉ bản số 176; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Văn N1, sinh ngày 1992; Địa chỉ: Số nhà G, hẻm P, tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt);

Người làm chứng: Phạm Thị G; Ngô Thị Thùy L; Hồ Văn S (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 04/02/2024, bị cáo Nguyễn Minh Q đi cùng xe mô tô với Lương Định Bảo L1, Võ Minh C đến khu vực khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, dừng xe đứng nói chuyện bên đường. Bị hại Nguyễn Văn N1 đang ngồi uống rượu trước nhà, nhìn thấy nên đi đến nói chuyện với bị cáo Q, phát sinh cự cãi, được can ngăn, L1, H1 bỏ đi. Bị hại N1 rủ bị cáo Q đánh nhau. Khi này, bị cáo Q đi bộ đến khu vực cách nhà bị hại N1 khoảng 50 mét lấy 01 thanh kim loại một đầu có hàn lưỡi hái; bị hại N1 lấy ống kim loại ở bên hông nhà, để đánh nhau. Bị cáo Q cầm thanh kim loại có hàn lưỡi hái chém nhiều cái về phía bị hại N1, gây thương tích ở vùng miệng (làm gãy 03 cái răng), bàn tay trái. bị hại N1 dùng ống tuýt đánh lại và giật lấy hung khí của bị cáo Q, bị cáo Q bỏ chạy. Bị hại N1 được người dân gần đó đưa đi điều trị thương tích và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Q.

Ngày 26/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, khởi tố Nguyễn Minh Q, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) thanh kim loại màu trắng, một đầu có hàn lưỡi hái, tổng chiều dài 185cm, cân nặng 1,35kg; Phần thân kim loại màu trắng hình ống tròn dài 149cm, đường kính 2,5cm; Phần lưỡi hái được hàn dính vào thân kim loại, lưỡi hái có kích thước 2,5x36cm; 01 (một) thanh kim loại (ống tuýt) dài 117cm, dạng ống tròn đường kính 2,5cm, nặng 0,85kg.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 250/24/TgT ngày 15/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, đối với: Nguyễn Văn N1, năm sinh: 1992, ngụ khóm L, phường L, thị xã T, kết luận:

- Chấn thương vùng hàm mặt: Sây sát da môi trên hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00% (Không phần trăm); Gãy răng R41 (răng cửa số 1 hàm dưới bên phải), tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm); Mẻ răng R42 (răng cửa số 2 hàm dưới bên phải), tỷ lệ là 01% (không một phần trăm); Gãy răng R31 (răng cửa số 1 hàm dưới bên trái), tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm); Gãy răng R32 (răng cửa số 2 hàm dưới bên trái), tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm); Vỡ xương ổ răng R41 (răng cửa số 1 hàm dưới bên phải), tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm); Vỡ xương ổ răng R31 (răng cửa số 1 hàm dưới bên trái), tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm); tỷ lệ là 11% (mười một phần trăm), do vật tày gây nên.

- Sẹo mặt lòng vòng qua mặt lưng liên đốt bàn ngón I bàn tay trái, dạng vát, kích thước (8.5 x 03) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm). Gây gãy xương dạng đứt đốt 1 ngón I bàn tay trái, tương ứng với vết sẹo bên ngoài, tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm); tỷ lệ là 05% (năm phần trăm), do vật sắc gây nên.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y qui định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp lý, pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm).

Cáo trạng số 50/CT-VKSTC-HS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Q vẫn khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Q từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) tù về tội “Cố ý gây thương tích;

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kim loại màu trắng, một đầu có hàn lưỡi hái, tổng chiều dài 185cm, cân nặng 1,35kg; Phần thân kim loại màu trắng hình ống tròn dài 149cm, đường kính 2,5cm; Phần lưỡi hái được hàn dính vào thân kim loại, lưỡi hái có kích thước 2,5x36cm; 01 (một) thanh kim loại (ống tuýt) dài 117cm, dạng ống tròn đường kính 2,5cm, nặng 0,85kg.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Trong phần tranh luận, sau khi nghe nội dung luận tội và đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Cáo trạng đã truy tố; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại N1 và người làm chứng Gái, L, S vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận nêu trên của bị cáo Q tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 04/02/2024, tại khu vực khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang bị cáo Nguyễn Minh Q có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (thanh kim loại có gắn lưỡi dao 01 đầu) đánh, chém vào vùng mặt và tay trái của bị hại Nguyễn Văn N1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% (Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 250 ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A).

Bị cáo Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác. Đồng thời, thanh kim loại có gắn lưỡi dao 01 đầu mà bị cáo Q sử dụng gây thương tích cho bị hại N1 là loại hung khí nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số 50/CT-VKSTC-HS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động, có trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế và bị hại N1 cũng có một phần lỗi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28/3/2022, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại diểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Q là người có nhân thân xấu, đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ và tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cách ly khỏi xã hội là cần thiết, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N1 không yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) thanh kim loại màu trắng, một đầu có hàn lưỡi hái, tổng chiều dài 185cm, cân nặng 1,35kg; Phần thân kim loại màu trắng hình ống tròn dài 149cm, đường kính 2,5cm; Phần lưỡi hái được hàn dính vào thân kim loại, lưỡi hái có kích thước 2,5x36cm; 01 (một) thanh kim loại (ống tuýt) dài 117cm, dạng ống tròn đường kính 2,5cm, nặng 0,85kg là vật chứng liên quan đến vụ án, giá trị sử dụng thấp, xét tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

(Đặc điểm tang vật như Quyết định xử lý vật chứng số 489 ngày 06 tháng 8 năm 2024).

[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Q 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/6/2024).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại màu trắng, một đầu có hàn lưỡi hái, tổng chiều dài 185cm, cân nặng 1,35kg; Phần thân kim loại màu trắng hình ống tròn dài 149cm, đường kính 2,5cm; Phần lưỡi hái được hàn dính vào thân kim loại, lưỡi hái có kích thước 2,5x36cm; 01 (một) thanh kim loại (ống tuýt) dài 117cm, dạng ống tròn đường kính 2,5cm, nặng 0,85kg.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thị xã (1);
  • - Chi cục Thi hành án DS thị xã (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Nhà Tạm giam (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q gây thương tích cho N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger