|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST. Ngày 27/9/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN – TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Na
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Kim Khánh
- Ông Lê Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1987 (Xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1991 (Xin xét xử vắng mặt);
Cùng trú tại: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 27/02/2024 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án anh Nguyễn Thái H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị T tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Hiện nay anh và chị T không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị T.
- Về con chung: Có 02 người con là cháu Nguyễn Hoàng Thái B, sinh ngày 12/12/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, sinh ngày 03/01/2019. Khi ly hôn anh đồng ý giao hai con cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, hàng tháng anh cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi lao động tự túc được.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết chị Hoàng Thị T trình bày
- Về quan hệ hôn nhân: Chị thống nhất với lời trình bày của anh H. Nay anh H đề nghị được ly hôn với chị, chị đồng ý.
- Về con chung: Có 02 người con là cháu Nguyễn Hoàng Thái B, sinh ngày 12/12/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, sinh ngày 03/01/2019, hiện các cháu đang ở với chị. Chị đồng ý với ý kiến của anh H giao hai con cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, hàng tháng anh H cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng/cháu, thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi lao động tự túc được.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh H và chị T là đúng theo quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thái H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thái H được ly hôn với chị Hoàng Thị T.
- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai cháu là Nguyễn Hoàng Thái B, sinh ngày 12/12/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, sinh ngày 03/01/2019.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Kể từ tháng 11/2024, hàng tháng anh H cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng/cháu, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi lao động tự túc được.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự: Anh Nguyễn Thái H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận giải quyết việc hôn nhân, nuôi con chung với chị Hoàng Thị T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Thái H, bị đơn chị Hoàng Thị T xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 điều 228, Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh H và chị T.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thái H và chị Hoàng Thị T tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Hiện nay anh H và chị T không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay anh H và chị T đều xin được ly hôn với nhau.
Qua xác minh tại địa phương cho thấy: mâu thuẫn giữa anh H và chị T đã ở mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần áp dụng các quy định tại Điều 51, 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 giải quyết cho anh H và chị T được ly hôn với nhau là phù hợp.
- Về con chung: Có 02 người con là cháu Nguyễn Hoàng Thái B, sinh ngày 12/12/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, sinh ngày 03/01/2019. Khi ly hôn anh H và chị T đều thống nhất giao hai cháu B và U cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; quá trình giải quyết cháu B cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Xét điều kiện thực tế, yêu cầu của chị T và nguyện vọng của cháu B là có cơ sở phù hợp với các quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, nên chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H và chị T đều thống nhất kể từ tháng 11/2024, hàng tháng anh H cấp dưỡng nuôi hai cháu B và U, mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng/cháu, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi lao động tự túc được. Xét sự thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp với các quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, nên chấp nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị T đều không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Anh H và chị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; khoản 1 điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thái H được ly hôn với chị Hoàng Thị T.
- Về con chung: Giao hai cháu là Nguyễn Hoàng Thái B, sinh ngày 12/12/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, sinh ngày 03/01/2019 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hàng tháng anh Nguyễn Thái H cấp dưỡng nuôi hai cháu là Nguyễn Hoàng Thái B và cháu Nguyễn Hoàng Nhã U, mỗi cháu là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng/cháu. Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 11/2024 đến khi con thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về án phí: Khoản án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Nguyễn Thái H phải chịu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0002038 ngày 08/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Anh Nguyễn Thái H còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thái H và chị Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Na |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN – TỈNH NINH THUẬN về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN – TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái Hòa- Hoàng Thị Thủy "Xin ly hôn và tr/c nuôi con chung"
