Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Bà Vi Thị Khiểu;

2, Bà Cụt Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐST-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lữ Thị L, sinh năm 1997;
  • Nơi cư trú: bản B, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An;
  • Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Lữ Văn T, sinh năm 1993;
  • Nơi cư trú: bản B, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 5 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lữ Thị L, trình bày: Chị Lữ Thị L và anh Lữ Văn T tổ chức đám cưới và sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2012, tuy nhiên, đến ngày 02/02/2018 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là anh Lữ Văn T không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lữ Thị L đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lữ Văn T.

Về con: Vợ chồng có 02 (Hai) con chung: Cháu Lữ Văn Tiến V, sinh ngày 25/5/2012 và cháu Lữ Hoàng D, sinh ngày 01/9/2017, hiện nay các cháu đang ở với chị Lữ Thị L, nếu ly hôn chị Lữ Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Lữ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Lữ Văn T trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không có mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các loại thông báo, quyết định tố tụng theo quy định nhưng anh Lữ Văn T không có mặt tại phiên tòa, vì vậy trong vụ án này phía bị đơn không thể hiện được yêu cầu gì đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của phía nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, các con chung của chị Lữ Thị L và anh Lữ Văn T trình bày nguyện vọng muốn được sống với mẹ là chị Lữ Thị L trong trường hợp cha mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:

  • - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử. Vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lữ Thị L được ly hôn với anh Lữ Văn T.
  • - Về con chung: Đề nghị giao 02 (Hai) con chung cho chị Lữ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn T do chị Lữ Thị L không yêu cầu.
  • - Về về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
  • - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết nghĩa vụ chịu phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Lữ Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Lữ Văn T, cư trú tại bản B, xã T, huyện K. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có mặt, tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Lữ Văn T đều vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại trụ sở Ủy ban nhân dân Xã và nơi cư trú của bị đơn anh Lữ Văn T nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị L là đúng quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị Lữ Thị L và anh Lữ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên, về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, xảy ra bất đồng quan điểm, cãi vã, xúc phạm nhau trong cuộc sống. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lữ Thị L là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lữ Thị L và anh Lữ Văn T có 02 (Hai) con chung là cháu Lữ Văn Tiến V, sinh ngày 25/5/2012 và cháu Lữ Hoàng D, sinh ngày 01/9/2017. Hiện các cháu đang ở với chị Lữ Thị L, chị Lữ Thị L có nguyện vọng sẽ trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh Lữ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung, các con chung đều có đơn nguyện vọng được ở với mẹ nếu cha mẹ ly hôn.

Xét thấy, nguyện vọng của các là cháu Lữ Văn T1 Vụ và Lữ Hoàng D và sự tự nguyện của chị Lữ Thị L, anh Lữ Văn T không có mặt tại nơi cư trú nên cần giao cả hai con chung cho chị Lữ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con đủ tuổi trưởng thành là phù hợp, đúng quy định. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn T.

[4] Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Đây là vụ án về ly hôn, chị Lữ Thị L là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/20/16 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi của chị Lữ Thị L. Xử cho chị Lữ Thị L được ly hôn anh Lữ Văn T;
  2. Về con chung: Giao con chung Lữ Văn Tiến V, sinh ngày 25/5/2012 và cháu Lữ Hoàng D, sinh ngày 01/9/2017 cho chị Lữ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn T do chị Lữ Thị L không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm non chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

    Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về án phí: Buộc chị Lữ Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001062 ngày 02/5/2024 tại Chị cục thi hành án huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên thong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn;
  • - UBND xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hữu Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Lữ Thị L và bị đơn anh Lữ Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger