Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/DS-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân;

2. Ông Hứa Thanh Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 438/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Đình H, sinh năm 1975; thường trú: Số B đường H, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Đình N, sinh năm 1986; địa chỉ: A khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai – là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo hợp đồng ủy quyền ngày 28/11/2023), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Chánh T, sinh năm 1983; thường trú: Số A khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn ông Vũ Đình H và bị đơn ông Trần Chánh T là chỗ quen biết, do cần vốn làm ăn nên ông T có nhiều lần hỏi mượn tiền của ông H qua hình thức chuyển khoản ngân hàng, không có thỏa thuận về lãi suất, cụ thể:

  • - Ngày 27/9/2022 ông H chuyển khoản cho ông T 03 lần với tổng số tiền 1.000.000.000 đồng.
  • - Ngày 16/11/2022 ông H chuyển khoản cho ông T số tiền 400.000.000 đồng.
  • - Ngoài ra ngày 10/5/2023 ông T có vay ông H số tiền 400.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản, trả trong vòng 10 ngày, số tiền này ông T đã hoàn trả toàn bộ cho ông H nên không có tranh chấp.

Đối với số tiền 1.400.000.000 đồng ông T không trả nợ cho ông H như đã cam kết mặc dù đã được ông H nhiều lần nhắc nhở, gửi thông báo yêu cầu trả tiền vay vào ngày 04/12/2023. Nhận thấy hành vi của ông T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H nên ông S đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Trần Chánh T phải trả lại cho ông Vũ Đình H số tiền gốc còn nợ là 1.400.000.000 đồng.
  • - Buộc ông Trần Chánh T phải trả cho ông Vũ Đình H số tiền lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (tạm tính 6 tháng) là: 1.400.000.000 x 10% x 6 tháng = 69.720.000 đồng.

Tổng số tiền ông H yêu cầu ông T phải trả là 1.469.720.000 đồng (một tỷ bốn trăm sáu mươi chính triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền lãi, cụ thể: Yêu cầu ông T trả tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 10/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 (tính tròn là 08 tháng) với số tiền 1.400.000.000 đồng x 10%/năm x 08 tháng = 93.333.333 đồng. Như vậy tổng số tiền gốc và lãi ông H yêu cầu ông T trả nợ tạm tính đến 26/7/2024 là 1.493.333.333 đồng.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Sao kê ngân hàng, hợp đồng ủy quyền (bản chính); chứng minh nhân dân (bản chứng thực); hình chụp tin nhắn zalo (bản photo).

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Chánh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền của Toà án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại số tiền nợ gốc và tiền lãi do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ số S khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 10/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 (tính tròn là 08 tháng) với số tiền 1.400.000.000 đồng x 10%/năm x 08 tháng = 93.333.333 đồng. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 5, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 1.400.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản, việc vay mượn không có lập thành văn bản, không thỏa thuận về lãi suất. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là các tin nhắn trao đổi qua ứng dụng zalo trên điện thoại, sao kê chuyển khoản ngân hàng, file ghi âm xác định việc ông T có nợ ông H, các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn nên có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có phát sinh giao dịch dân sự dưới hình thức hợp đồng vay tài sản. Việc vay mượn giữa hai bên không có thỏa thuận thời gian trả, đến ngày 04/12/2023 ông H có gửi thông báo yêu cầu trả nợ đến địa chỉ cư trú của ông T đề nghị trong vòng 05 ngày kể từ ngày 04/12/2023 phải trả nợ cho ông H. Bên cạnh đó trong file ghi âm, các tin nhắn ông T cũng xác định nợ tiền ông H và hứa hẹn sẽ trả nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện, như vậy ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của mình.

[2.2] Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ông Vũ Đình H và bị đơn ông Trần Chánh T là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của hai bên phát sinh sau khi ký kết hợp đồng. Mặc dù đã được nguyên đơn thông báo trả nợ và hết thời hạn trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc là phù hợp với quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.3] Về tiền lãi và mức lãi suất: Bị đơn chậm trả tiền nên phải có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 10/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 với số tiền 93.333.333 đồng là phù hợp quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 244, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Đình H về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn ông Trần Chánh T.

2. Buộc ông Trần Chánh T. phải thanh toán cho ông Vũ Đình H số tiền 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng) nợ gốc và 93.333.333 đồng (chín mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, tổng cộng 1.493.333.333 đồng (một tỷ bốn trăm chín mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Chánh T phải chịu 56.800.000 đồng (năm mươi sáu triệu, tám trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Vũ Đình H số tiền 28.045.800 đồng (hai mươi tám triệu, không trăm bốn mươi lăm nghìn, tám trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000948 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;,
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Ngọc Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 72/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger