Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 7 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Quốc và ông Huỳnh Văn Tý.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành D, sinh ngày 01/01/1993. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Mai Thị L, sinh năm 1965; Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ con.
  2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023, đến ngày 18/12/2023 tạm giam cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Trần Công S, sinh ngày 01/01/1988. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công T, sinh năm 1960 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1967; Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ hai; vợ tên Lưu Thị C, sinh năm 1995; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019.
  4. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023, đến ngày 18/12/2023 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/12/1994. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 và bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1971; Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; vợ tên Lê Thị Bích T2, sinh năm 1992; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023
  2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam trong một vụ án khác.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Dương Thanh T3, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lưu Thị C, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969. Nơi cư trú: khu phố Đ, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  3. Chị Lê Thị Bích T2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Chị Trần Diễm T4, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  2. Ông Trần Minh H3, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  3. Ông Võ Hoàng V, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Khmer cho bị cáo Nguyễn Thành D: Ông Liêu K - Cán bộ hưu trí thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 09/12/2023, Lực lượng tuần tra Công an huyện T kiểm tra hành chính xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 67B1-626.01 do Nguyễn Thành D điều khiển tại khu vực ấp S, xã V, huyện T. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần jean trước bên trái của D 01 bịch nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) và 01 nỏ thủy tinh màu trắng trong túi quần bên phải phía trước nên dẫn giải D về trụ sở Công an huyện T làm việc. Tại đây, D khai nhận tinh thể rắn màu trắng là ma túy đá. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô 67B1-626.01 đến gặp người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực N mua 2.200.000 đồng ma túy đá, cất giấu trong túi quần trước bên trái đem về sử dụng thì bị công an phát hiện bắt lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngày 15/12/2023, D bị khởi tố điều tra.

Quá trình điều tra, D khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 29/9/2023, D điều khiển xe mô tô loại xe tay ga, không rõ nguồn gốc, biển số đến nhà người bạn T5 Ù không rõ nhân thân ở khu vực thị trấn N, huyện T thì gặp Trần Công S rủ S tìm tài sản (mai kiểng) lấy trộm, S đồng ý. S điều khiển xe chở D đến nhà Dương Thanh T3 ở ấp M, xã Đ, huyện T, thấy trong sân nhà T3 trồng nhiều cây mai trên chậu nên S dừng xe cách nhà T3 khoảng 15m ngồi trên xe cảnh giới, còn D đi bộ đến nhà T3 leo qua rào lưới B40 vào trong sân dùng tay nhổ 02 cây mai trồng trên chậu. Sau đó, D ôm 01 cây mai ngồi sau, để phía trước xe 01 cây mai, S điều khiển xe chở D về nhà của D ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T cất giấu. Đến ngày 01/10/2023, D điện thoại cho Nguyễn Văn H cho biết có hai cây mai lấy trộm, kêu bán thì H đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. Sau khi đồng ý mua lại hai cây mai, H thuê xe ô tô biển số 68A-189.52 của Trần Minh H3 với giá 1.700.000 đồng đến nhà D lấy mai, nhưng không cho H3 biết mai này của D lấy trộm. Đến ngày 02/10/2023, H bán hai cây mai cho Nguyễn Văn H2 số tiền 7.200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Riêng T3 phát hiện hai cây mai bị mất đến Công an xã Đ trình báo.

Ngày 15/12/2023, biết hành vi lấy trộm hai cây mai bị phát hiện S, H đến Công an huyện T đầu thú.

Ngày 17/12/2023, S, H bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 bịch nilon trong suốt, đầu có rãnh khoá màu trắng.
  • 01 bịch nilon trong suốt được hàn kín, bên trong có chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý).
  • 01 ống thủy tinh, một đầu có hình tròn.
  • 01 xe mô tô biển số 67B1-626.01, số máy VLF1P52FMHC70700890; số khung RL8WCHKHY71000890.
  • 01 cây mai, loại cây cảnh bị cắt còn phần thân và rễ cao 75cm, hoành thân rộng nhất 52cm.
  • 01 cây mai, loại cây cảnh bị cắt còn phần thân và rễ, cao 30cm, hoành thân rộng nhất 50cm.

Theo Kết luận giám định số 234/KL-KTHS(MT-GT) ngày 13/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 2,0604 gam.

Bản kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:

  • 01 cây mai kiểng cao khoảng 100cm, hoành khoảng 60cm, trị giá 20.000.000 đồng.
  • 01 cây mai kiểng cao khoảng 190cm, hoành khoảng 40cm, trị giá 6.000.000 đồng.

Tổng tài sản định giá là 26.000.000 đồng.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả 02 cây mai cho Dương Thanh T3.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSTS-HS, ngày 02/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành D về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Trần Công S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Công SNguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Công SNguyễn Văn H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Bị hại Dương Thanh T3 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Do tài sản bị mất đã nhận lại nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H2, người làm chứng Trần Minh H3 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Hai yêu cầu H trả lại số tiền mua mai 7.200.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị C (vợ bị cáo S) trình bày: Khoảng tháng 9/2023, D có cho C 1.200.000 đồng để mua sữa cho con. C không biết tiền đâu D có. Sau khi, D, S bị công an bắt thì C biết tiền do D, S trộm mai bán có được. Hiện C không có việc làm, không có thu nhập nên chưa giao nộp lại số tiền trên.

Người làm chứng Võ Hoàng V trình bày: Xe mô tô biển số 67B1-626.01 của V đứng tên chủ sở hữu, năm 2021 V bán xe mô tô trên cho người khác, không làm thủ tục mua bán sang tên theo quy định. Xe đã bán nên V không yêu cầu gì.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt hai tội từ 01 năm 09 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Công S từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Công SNguyễn Văn H đã thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các biên bản hoạt động tố tụng, kết luận giám định. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 09/12/2023, Nguyễn Thành D đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 2,0604 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.

Ngày 29/9/2023, Nguyễn Thành D, Trần Công S đã thực hiện hành vi lấy trộm 02 cây mai trị giá 26.000.000 đồng của anh Dương Thanh T3.

Ngày 01/10/2023, Nguyễn Văn H biết rõ 02 cây mai trị giá 26.000.000 đồng do Nguyễn Thành D trộm cắp mà có nhưng vẫn tiêu thụ.

Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành D, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01

năm đến 05 năm; bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Công S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy; xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo trước khi phạm tội là những người có nhân thân tốt, vì chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng vì hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, là nguyên nhân gây bất ổn cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân bất bình.

Đây là vụ án có nhiều tội danh và đồng phạm tham gia, nên khi lượng hình cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Thành D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được việc làm đúng sai, do xem thường pháp luật, bị cáo bất chấp. Vào ngày 09/12/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 2,0604g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra, ngày 30/9/2023 bị cáo còn rủ rê bị cáo Trần Công S lén lút lấy trộm của ông Dương Thanh T3 02 cây mai trị giá 26.000.000 đồng, sau đó trực tiếp liên hệ với bị cáo Nguyễn Văn H bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, cùng lúc xâm phạm hai tội, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Đối với bị cáo Trần Công S, khi bị cáo D rủ bị cáo đi tìm tài sản lấy trộm bị cáo không can ngăn mà đồng ý ngay, bị cáo đồng phạm với bị cáo D với vai trò giúp sức, chở bị cáo D đến nhà bị hại Dương Thanh T3 để lấy trộm 02 cây mai trị giá 26.000.000 đồng và chở bị cáo D về nhà tìm người bán tài sản trộm được, vì vậy bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ 02 cây mai mà bị cáo D kêu bán là tài sản từ việc phạm tội mà có nhưng vì hám lợi bị cáo đã mua và bán lại cho ông Nguyễn Văn H2 để hưởng

lợi số tiền 4.200.000 đồng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo gây ra.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo D có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; sau khi phạm tội ra đầu thú, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo S, H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[8] Đối với người bán ma tuý cho D do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Hành vi tàng trữ 01 ống thủy tinh, một đầu có hình tròn, 01 bịch nilon trong suốt, đầu có rãnh khoá màu trắng của D do chưa đủ định lượng và D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Nguyễn Văn H2, Trần Minh H3 không biết 02 cây mai phạm tội mà có và Lưu Thị C không biết số tiền 1.200.000 đồng D đưa là tiền phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H2, H3, C về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Hành vi trộm mai của Nguyễn Thành D, Trần Công S tại huyện T, tỉnh Kiên Giang đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết riêng nên không đề cập giải quyết.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Thanh T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H trả lại số tiền mua mai 7.200.000 đồng. Tại phiên tòa, chị Lê Thị Bích T2 (vợ bị cáo H) cung cấp Đơn khắc phục có nội dung chị T2 đại diện Nguyễn Văn H trả cho ông Nguyễn Văn H2 số tiền 7.000.000 đồng, có chữ ký của ông Nguyễn Văn H2. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa nên không thể xác nhận nội dung trên. Xét thấy, nếu sau này ông H2 có tranh chấp số tiền mua bán mai với bị cáo H thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác nếu có yêu cầu.

[9] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ được các vật chứng, cần phân hóa ra để xử lý như sau:

  • Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và các vật chứng khác liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng.
  • Tịch thu xe mô tô biển số 67B1-626.01, số máy VLF1P52FMHC70700890; số khung RL8WCHKHY71000890 bị cáo D dùng làm phương tiện phạm tội.
  • Đối với xe mô tô bị cáo D, S sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản và bị cáo D đã bán 700.000 đồng nên bị cáo D phải nộp lại số tiền này để sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với số tiền bị cáo D bán mai được 3.000.000 đồng và bị cáo H biết tài sản phạm tội mà có nên buộc bị cáo D giao nộp số tiền này để sung quỹ Nhà nước.

[10] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Trần Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Công S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 323 điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư màu trắng, được niêm phong, dán kín, bên ngoài có ghi dòng chữ “vụ : 234/KL-KTHS(MT-GT) ngày

13/12/2023, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang bên ngoài có chữ ký và ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H4, Huỳnh Văn T6, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau khi đã giám định; 01 (một) bịch nilon trong suốt, đầu có rãnh khoá màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu có hình tròn (nỏ) (tất cả đã qua sử dụng).

Tịch thu 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-626.01, số máy VLF1P52FMHC70700890; số khung RL8WCHKHY71000890 (đã qua sử dụng) để sung vào ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Đào Công D1 giao nộp số tiền 700.000 đồng bị cáo D1 đã bán xe (dùng làm phương tiện đi trộm) và số tiền 3.000.000 đồng bị cáo D1 bán mai có được để sung quỹ Nhà nước.

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKSTS ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Công SNguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham ga tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy; trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy; Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Danh, Trần Công Sang phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger