|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:72/2024/HSST
Ngày 26/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hoa - Giáo viên trường tiểu học thị trấn Đông Hưng
- Bà Nguyễn Thị Vĩnh - cán bộ hưu trí xã Đông hợp.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Trà giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST - HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST - HS ngày 15/7/2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 19/12/2007; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Thôn A, Xã T, huyện C, tỉnh Gia Lai. (Theo Điều 12 Luật cư trú)
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học: 8/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Không xác định; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1988, hiện cư trú tại: Thôn A, Xã T, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1988 – Là mẹ đẻ của bị cáo K
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Gia Lai.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
2
Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Trần Thị L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T
( Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
- Anh Lê Công L2, sinh năm 2007
- Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1990
Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
Người đại diện hợp pháp của anh L2:
Ông Lê Hữu P, sinh năm 1972 – Là bố đẻ anh Lý
Địa chỉ: Thôn Sol Trang, xã Hnol, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Đều vắng mặt .)
Người có quyền lợi liên quan:
Chị Lê Huyền T, sinh năm 2003
Nơi cư trú : Thôn S, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Nguyên K, là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang. Tháng 04/2024, K đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Gia Lai và huyện Đ, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ, ngày 31/03/2024, K mang theo đồ dùng cá nhân và 260.000 đồng đi bộ từ nhà bà ngoại ở xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ra ngã ba P, huyện C, tỉnh Gia Lai rồi đi xe khách lên huyện Đ, tỉnh Gia Lai chơi, K đi bộ quanh khu vực thị trấn chơi đến khoảng 03 giờ, ngày 01/4/2024 thì K đi đến khu dãy nhà trọ thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện Đ. Lúc này, K phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, sơn màu đỏ đen, loại 50 cm³, biển kiểm soát 81AA-090.37 của anh Lê Công L2 để trước cửa một phòng trọ, không có người canh coi nên nảy sinh ý định trộm cắp để làm phương tiện đi lại. Khôi kiểm tra thấy cổng vào dãy nhà trọ khép nhưng không khóa nên K mở cổng vào dắt xe môtô ra ngoài. K dắt xe đi bộ theo hướng ra Quốc lộ A đi Bình Định, đi được khoảng 5km thì dừng lại ngủ ở ven đường. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, K dậy và dắt xe đến một
3
quán sửa xe ở ven đường (K không nhớ tên quán và địa chỉ) để thay ổ khóa xe rồi điều khiển xe đi tiếp theo hướng Bình Định. Khoảng 21 giờ Khôi đến huyện A - Bình Định, vào ngồi cạnh một quán cà phê nghỉ chơi điện tử (K không nhớ tên quán và địa chỉ cụ thể). K ở Bình Định đến ngày 03/4/2024 thì điều khiển xe đi theo đường mòn Hồ Chí M ra miền B.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tỉnh Gia Lai kết luận: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81AA-090.37, nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, loại 50 phân khối, mua năm 2018, đăng ký mang tên Lê Thị Huyền T1 bị mất trộm ngày 01/4/2024 trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).
* Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ, ngày 12/4/2024, Nguyễn Nguyên K điều khiển xe mô tô 81AA-090.37 trộm cắp được của anh Lê Công L2 đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. K vào quán C ở khu đô thị T thị trấn Đ, huyện Đ để uống nước. Trong lúc ngồi uống nước ở quán, K kiểm tra thấy gần hết tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp tiền để chi tiêu cá nhân. K đã điều khiển xe mô tô đi vòng quanh khu đô thị mục đích xem nhà nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 03 giờ ngày 13/4/2024, K đi đến quán “Bia thủ công A P1” của anh Nguyễn Hữu N, thấy khóa cửa ngoài nhưng cửa sổ bằng kính mở, K dựng xe bên cạnh quán rồi trèo qua cửa sổ vào bên trong quán trộm cắp được 70.000 đồng (01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng) ở ban thờ thần tài bỏ vào trong ba lô rồi đi lại quầy thu ngân mở ngăn kéo trộm cắp được 3.500.000 đồng (gồm 04 tờ mệnh giá 500.000đồng, 04 tờ mệnh giá 200.000đồng, 06 tờ mệnh giá 100.000đồng, 02 tờ mệnh giá 50.000đồng) bỏ vào trong ba lô rồi chui ra ngoài theo lối cũ. Sau đó, K điều khiển xe mô tô đi qua thành phố Hà Nội lên các tỉnh, thành phố phía Bắc, đến khoảng 09 giờ ngày 24/4/2024, K đi đến thị xã N, tỉnh Yên Bái. Do thấy K có biểu hiện nghi vấn nên Công an thị xã N đã đưa K về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an, K đã khai nhận hành vi trộm cắp tiền ngày 13/4/2024 tại thị trấn Đ, huyện Đ; Công an thị xã N đã thông báo cho Công an huyện Đ đến tiếp nhận để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ vật chứng là xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, sơn màu đỏ đen, loại 50cm³, biển kiểm soát 81AA-090.37 .
Bị hại anh N yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho anh số tiền 3.570.000 đồng bị cáo đã trộm cắp của anh N. Người có quyền lợi liên quan chị T1 đề nghị cơ quan điều tra trả lại chị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, sơn màu đỏ đen, loại 50cm³, biển kiểm soát 81AA-090.37 của chị bị K trộm cắp .
Trong quá trình tố tụng Nguyễn Nguyên K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 70/CT-VKSĐH ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã
4
truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50, 90, 91, 98; 101 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; phạt bị cáo mức hình phạt từ 08 (tám) - 09 (chín) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; buộc bà L mẹ đẻ bị cáo phải hoàn trả cho anh N số tiền 3.570.000 đồng, đề nghị xử lý vật chứng, tiếp tục quản lý chiếc điện thoại cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Tại phiên tòa: Bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản là đúng pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo và bị cáo nhất trí với bản luận tôi của đại diện Viện kiểm sát không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, độ tuổi của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội do bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị HĐXX áp dụng các quy định tại Chương XXII đối với người dưới 18 tuổi để xác định mức hình phạt đối với bị cáo để đảm tính nguyên tắc có lợi cho bị cáo
Khi bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc trộm cắp tài sản là sai, là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo trở về với gia đình, xã hội.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng:
Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
5
[2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 70/CT-VKSĐH ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với: Đơn trình báo, lời khai của các bị hại; Vật chứng thu giữ; Bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ; Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Huyền T1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/4/2024, Nguyễn Nguyên K có hành vi trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 81AA-090.37 của anh Lê Công L2 có trị giá 4.500.000 đồng và ngày 13/4/2024, Nguyễn Nguyên K có hành vi trộm cắp 3.570.000 đồng tại quán “Bia thủ công A P1” ở khu đô thị T thị trấn Đ, huyện Đ của anh Nguyễn Hữu N để chi tiêu cá nhân.
Hành vi 02 lần trộm cắp của K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4]Về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp mỗi lần giá trị tài sản bị cáo trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện các hành vi phạm tôi bị cáo mới ở độ tuổi chưa thành niên (trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi) do vậy bị cáo được áp dụng các quy định đối với
6
người chưa thành niên phạm tội quy định tại các Điều 90, 91, 98; 101 trong Chương XXII của Bộ Luật hình sự.
[5]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên không có thu nhập ổn định. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về tang vật vụ án: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81AA-090.37, nhãn hiệu ESPERO, sơn màu đỏ đen, loại 50cm3 bị cáo trộm cắp của anh Lê Công L2 là xe anh L2 mượn của chị gái là chị Lê Thị Huyền T1 cần trả lại cho chủ sở hữu.
[7]Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 3.570.000 đồng bị cáo trộm cắp của anh N cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho anh N, trường hợp bị cáo không có đủ tài sản để hoàn trả thì bà L mẹ đẻ bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả phần còn thiếu cho anh N.
[8]Về các vấn đề liên quan: 01 chiếc điện thoại NOKIA là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục quản lý chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng để đảm bảo thi hành án.
[9]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
[10]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nguyên K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 90, 91, 98, 101 Bộ Luật Hình sự.
Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Nguyên K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Nguyên K .
3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 576, khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1990 địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình số tiền 3.570.000 đồng. (Ba triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng). Nếu bị cáo không đủ tài sản để hoàn trả thì bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1988 – Là mẹ của bị cáo K địa chỉ: Thôn A,
7
xã T, huyện C, tỉnh Gia Lai phải có nghĩa vụ hoàn trả phần còn thiếu cho anh Nguyễn Hữu N.
4.Về tang vật vụ án: Tuyên trả chị Lê Thị Huyền T1, sinh năm 2003 địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai 01 xe mô tô biển kiểm soát 81AA-090.37, nhãn hiệu ESPERO, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 06/7/2024.
5.Về xử lý các vấn đề liên quan: Tiếp tục quản lý chiếc điện thoại NOKIA cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo gửi kèm theo hồ sơ vụ án chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng để đảm bảo thi hành án.
6.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Nguyên K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
7.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án ngày, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Thị Nhung |
8
Bản án số 72/2024/HSST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nguyên K- trộm cắp
