|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024 /HSST
Ngày: 26/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Ông Mai Xuân Thường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nam Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43 /2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đình V Tên gọi khác: không
Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28/10/1979
Nơi sinh: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Số F, đường N, khối B, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1
Họ và tên cha: Nguyễn Đình M, sinh năm 1947
Họ và tên mẹ: Trịnh Thị T, S năm 1956
Vợ: Thái Thị M1, sinh năm 1983
Con: 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Anh chị em ruột: 03 người, bị caó là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến 16/10/2023.
Bị caó được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Tạ Quốc B Tên gọi khác: không
Giới tính: Nam; Sinh ngày: 17/6/1982
N sinh: huyện Y, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Họ và tên cha: Tạ Quốc L, sinh năm 1952
Họ và tên mẹ: Đinh Thị T1, S năm 1955
Vợ: Võ Thị N1, sinh năm: 1983
Con: 01 người con sinh năm 2013.
Anh chị em ruột: 05 người, bị caó là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
Ngày 17/11/2019 bị công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong)
Bị caó được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa
3. Họ và tên: Bùi Thị T2 Tên gọi khác: không
Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 06/4/1975
N sinh: huyện Y, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 04/10;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Họ và tên cha: Bùi Văn N2, sinh năm 1938
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Y, S năm 1938
Chồng: Hoàng Văn N3, sinh năm 1973
Con: 02 người con lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2000.
Anh chị em ruột: 06 người, bị can là con thứ năm;
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2021, do có nhu cầu đi lao động tại C, Nguyễn Thị N4 (sinh 1987, trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh) thông qua mối quan hệ quen biết đã liên hệ với Bùi Thị T2 (sinh 1975, trú tại xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An) để làm hồ sơ, thủ tục. Sau đó, Bùi Thị T2 đặt vấn đề với Tạ Quốc B (sinh năm 1982, trú xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An) để làm thủ tục cho Nguyễn Thị N4 đi lao động tại C và Tạ Quốc B đồng ý. Tạ Quốc B trực tiếp liên hệ với Nguyễn Thị N4 giới thiệu tư vấn cho N4 về việc đi Hunggari theo xuất khẩu lao động đơn hàng lắp đặt linh kiện điện tử với chi phí 6.000 USD (sáu nghìn đô la Mỹ). Nguyễn Thị N4 đồng ý, Tạ Quốc B hướng dẫn cho Nguyễn Thị N4 chuẩn bị hồ sơ gồm: hộ chiếu, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp, ảnh chân dung và Căn cước công dân bản phô tô công chứng rồi gửi cho Tạ Quốc B qua đường bưu điện. Ngày 27/9/2022, Nguyễn Thị N4 chuyển cho Bùi Thị T2 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tiền cọc làm thủ tục đi lao động tại H rồi T2 chuyển số tiền trên cho Tạ Quốc B. Đến tháng 10/2022, Tạ Quốc B thông báo cho Bùi Thị T2 là Nguyễn Thị N4 không trúng tuyển đơn hàng lao động tại Hunggari do Nguyễn Thị N4 lớn tuổi khó đi theo đơn hàng xuất khẩu lao động nên bây giờ chuyển sang đi theo đường du lịch sang Đức để lao động, Bùi Thị T2 trao đổi lại với Nguyễn Thị N4 thì được N4 đồng ý.
Tạ Quốc B liên lạc với Nguyễn Đình V (sinh 1979, trú tại khối B, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) là giám đốc Công ty TNHH D1 đặt vấn đề về việc Nguyễn Thị N4 có nguyện vọng đi lao động tại Đức thông qua hình thức xin visa đi du lịch thì V đồng ý. Nguyễn Đình V thông qua mạng xã hội Facebook tài khoản “Vỹ Nguyễn” của mình liên hệ với một người tên H (hiện đang ở C Pháp) có tài khoản Facebook "David Hung" chuyên làm dịch vụ đưa người đi du lịch C, được người này tư vấn, giới thiệu cách thức đi, hồ sơ cần có nên Nguyễn Đình V trả lời Tạ Quốc B là không bay thẳng từ Việt Nam sang Đức được, muốn đi Đ chỉ có làm visa du lịch đi Pháp (thời điểm này xin Visa du lịch Pháp là dễ nhất) rồi từ Pháp đi sang Đức, chi phí là 15.000 USD (mười lăm nghìn đô la Mỹ) nếu khi khách đi Pháp không có người nhà đón sang Đ thì người của anh H sẽ đón và mua vé tàu điện từ Pháp đi sang Đức và khi khách đi Đức thành công thì phía đầu dây bên kia mới nhận tiền. Tạ Quốc B trao đổi cho Bùi Thị T2 và Bùi Thị T3 thông báo lại cho Nguyễn Thị N4 và N4 đồng ý đi sang Đức lao động theo hình thức như Nguyễn Đình V thông báo. Nguyễn Thị N4 chuyển hồ sơ qua tài khoản Zalo cho Tạ Quốc B gồm: gửi ảnh chân dung, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy khai sinh có công chứng của N4 và của con trai, giấy CMND của chồng, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, sổ tiết kiệm của ngân hàng T6, (còn hộ chiếu, tiền cọc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) chuyển từ tiền cọc để làm thủ tục đi lao động Hunggari sang).
Cuối năm 2022, Tạ Quốc B chuyển trực tiếp hồ sơ và tiền cọc 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) của Nguyễn Thị N4 cho Nguyễn Đình V rồi Nguyễn Đình V gửi hồ sơ (bản Scan) của Nguyễn Thị N4 cho H qua tin nhắn Meseenger tài khoản Facebook "David Hung", các tài liệu là bản gốc thì V chuyển qua đường chuyển phát nhanh ra Hà Nội theo địa chỉ H cho (không nhớ địa chỉ), tiền cọc thì Nguyễn Đình V giữ lại. Khoảng 01 (một) tháng sau, H thông báo cho Nguyễn Đình V rồi V thông báo cho Tạ Quốc B, B thông báo cho N4 lịch lăn tay, nộp hồ sơ xin cấp Visa tại Đại sứ quán P ở Hà Nội, H dặn Nguyễn Đình V trước giờ lăn tay sẽ có người liên lạc với N4 để hướng dẫn lên nộp hồ sơ và cách trả lời những nội dung liên quan để được cấp Visa du lịch Pháp đồng thời Nguyễn Đình V cho H số điện thoại của N4 để tiện liên hệ. Nguyễn Thị N4 đến Trung tâm tiếp nhận hồ sơ của Đại sứ quán P tại Hà Nội, tại đây Nguyễn Thị N4 được một người đàn ông tên K có số điện 0966348969 (không rõ thông tin cá nhân) đưa cho Nguyễn Thị N4 bộ hồ sơ (có cả tiếng nước ngoài) để N4 nộp cho bộ phận tiếp nhận làm thủ tục.
Khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4/2023, H thông báo cho Nguyễn Đình V đã có Visa du lịch Pháp đồng thời gửi hình ảnh hộ chiếu có đóng visa Pháp cho Nguyễn Đình V rồi Nguyễn Đình V gửi cho Tạ Quốc B, B gửi cho N4 còn hộ chiếu gốc có gắn Visa Pháp thì H gửi cho Nguyễn Đình V qua đường bưu điện. Sau khi có Visa du lịch Pháp Nguyễn Đình V yêu cầu Tạ Quốc B chuyển hết số tiền còn thiếu để cho N4 xuất cảnh. Tạ Quốc B thông báo lại cho Bùi Thị T2 để T2 thông báo và yêu cầu Nguyễn Thị N4 nộp đủ số tiền còn thiếu. Ngày 03/4/2023, Nguyễn Thị N4 chuyển cho Bùi Thị T2 295.000.000₫ (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng) qua tài khoản số 2963686886 tại ngân hàng T6. Bùi Thị T2 chuyển cho Tạ Quốc B 258.000.000₫ (Hai trăm năm mươi tám triệu đồng) giữ lại 37.000.000₫ (ba mươi bảy triệu đồng) Tạ Quốc B chuyển cho Nguyễn Đình V 195.600.000đ (Một trăm chín mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng), giữ lại 62.400.000₫ (Sáu mươi hai triệu bồn trăm nghìn đồng).
Do chi phí vé máy bay bay thẳng từ Hà Nội sang Pháp phát sinh nên Nguyễn Đình V yêu cầu Tạ Quốc B thu thêm của N4 5.000.000đ (năm triệu đồng). Ngày 05/4/2023, Nguyễn Thị N4 chuyển cho Tạ Quốc B 5.000.000đ (năm triệu đồng) qua tài khoản số [...] ngân V2 rồi B chuyển cho Nguyễn Đình V số tiền trên. Nguyễn Đình V đặt vé máy bay cho N4 và gửi mã đặt vé cho Tạ Quốc B đồng thời dặn Tạ Quốc B hướng dẫn Nguyệt việc chuẩn bị hành lý khi đi, như: "Mang theo các giấy tờ: hộ chiếu, thẻ visa, đồ dùng cá nhân chỉ mang theo hành lý xách tay, không mang theo hành lý ký gửi, không mang các vật dụng, đồ dùng mang tính chất liên quan đến công việc sẽ làm bên Đ". Còn những giấy tờ liên quan phục vụ cho việc xuất cảnh như booking khách sạn, lịch trình đi tham quan du lịch Pháp, bảo hiểm du lịch... thì H không gửi cho Nguyễn Đình V mà có người của H (tên là K) tự liên hệ gửi cho N4 rồi N4 tự in ra mang theo khi xuất cảnh. Cũng trong thời gian này có tài khoản Z “jj" kết bạn với Nguyễn Thị N4 và giới thiệu sẽ là người hướng dẫn N4 từ Pháp qua Đức.
Ngày 05/5/2023, N4 làm thủ tục xuất cảnh sang Pháp từ sân bay N (Thành phố Hà Nội) thì được một người đàn ông tên Đ (không rõ thông tin cá nhân) hướng dẫn làm thủ tục. Khi Nguyễn Thị N4 đến Pháp thì người có một người đàn ông có tài khoản Zalo là "Tiến Công” do tài khoản Zalo “JJ” giới thiệu kết bạn với N4 và nói sẽ đón N4 tại sân bay P. Đến sân bay P, Nguyễn Thị N4 bị cơ quan chức năng Pháp giữ lại vì nghi ngờ lý do nhập cảnh (không có giấy tờ hợp lệ chứng minh mục đích và điều kiện lưu trú) sau đó N4 bị trục xuất về nước vào ngày 09/5/2023. Sau khi về Việt Nam, Nguyễn Đình V, Tạ Quốc B và Bùi Thị T2 đã trả lại cho Nguyễn Thị N4 toàn bộ số tiền 345.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng). (BL 254- 352).
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 62a/CT - VKS - P1 ngày 21/02/2024 đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình V, Tạ Quốc B, Bùi Thị T2 về tội "Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài" theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:
Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 349, điểm s, khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguuyễn Đình V1 từ 15 - 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thửa thách từ 30 - 36 tháng; xử phạt Tạ Quốc B từ 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách từ 24- 30 tháng; xử phạt Bùi Thị T2 từ 12- 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 24 - 30 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền Nguyễn Đình V 20.000.000₫
Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo Tạ Quốc B và Bùi Thị T2 do hoàn cảnh khó khăn.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của người liên quan: Tại phiên tòa vắng mặt người liên quan, xét thấy người liên quan đã nhận được đầy đủ số tiền từ các bị cáo và không yêu cầu gì thêm. Do đó, sự vắng mặt của người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt người liên quan như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[1.2] Về các quyết định và hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa,các bị cáo, người liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
[2] Về nội dung: Mặc dù không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động tư vấn, môi giới, tuyển dụng, đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài nhưng từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 05 năm 2023, Nguyễn Đình V cấu kết với Tạ Quốc B, Bùi Thị T2 đã tổ chức cho Nguyễn Thị N4 trốn sang Đức để lao động bất hợp pháp bằng hình thức du lịch đến Pháp, từ Pháp đi sang Đức mục đích hưởng lợi. Bùi Thị T2 đã thu của Nguyễn Thị N4 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng) và chuyển cho Tạ Quốc B 308.000.000 đồng (Ba trăm linh tám triệu đồng), B chuyển Nguyễn Đình V 245.600.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm ngàn đồng). Ngày 05/05/2023, Nguyễn Đình V bố trí người làm thủ tục cho Nguyễn Thị N4 xuất cảnh tại sân bay N, thành phố Hà Nội và đón N4 tại sân bay P. Do không có giấy tờ hợp lệ ngày 09/5/2023 Nguyễn Thị N4 bị cơ quan chức năng của Pháp trục xuất về Việt Nam.Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội "Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép" theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất và hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Các bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng với thủ đoạn tổ chức cho người khác xuất cảnh ra nước ngoài theo hình thức hợp pháp sau đó trốn sang nước thứ 3 để ở lại lao động. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội vai trò đồng phạm giản đơn, mỗi bị cáo giữ vai trò là một mắt xích trong vụ án. Các bị cáo đều không có chức năng đưa công dân Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng vì mục đích vụ lợi nên Bùi Thị T3 đã giới thiệu trao đổi và thu tiền của Nguyễn Thị Nguyệt đưa cho Tạ Quốc B để Tạ Quốc B thông qua Nguyễn Đình V để Nguyễn Đình V thông qua một đối tượng khác để làm thủ tục đưa Nguyễn Thị N4 sang Đức lao động. Nguyễn Đình V là người hướng dẫn cách thức, nhận hồ sơ tài liệu, nhận tiền và đạt vé máy bay cho Nguyễn Thị N4 đi sang Pháp. Như vậy, các bị cáo đều có vai trò tương đồng nhau, đều nhằm mục đích môi giới để tổ chức cho Nguyễn Thị N4 sang Đức lao động với mục đích trục lợi. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại đến lĩnh vực quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động và xuất nhập cảnh, ảnh hưởng xấu đến uy tín, hình ảnh đối ngoại của Việt Nam trên lĩnh vực du lịch. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
+ Đối với bị cáo Nguyễn Đình V: Bị cáo có nhân thân tốt, là đảng viên Đảng cộng sản việt N6 bị đình chỉ sinh hoạt Đảng. Quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có bố đẻ là ông Nguyễn Đình M được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; Mẹ đẻ là bà Trịnh Thị T được Bộ G và đào tạo tặng huy chương vì sự nghiệp giáo dục; Ông Nguyễn Đình C (ông nội của bị caó) được tặng thưởng Bằng khen vì đã góp công sức vào cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc; gia đình thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Đình D.
+ Bị cáo Tạ Quốc B đầu thú về hành vi phạm tội của mình, được UBND xã H tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong việc ủng hộ Đồng bào miền trung lũ lụt, xây dựng nông thôn mới, phòng chống dịch Covid 19; có bố đẻ là ông Tạ Quốc L được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì;
+ Bị cáo Bùi Thị T2, khai báo thành khẩn, có bố đẻ là ông Bùi Văn N2 được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; Mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Y được chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
[5] Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên chưa cần thiết các ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[6] Đối với người đàn ông tên H, tên K, người có tài khoản Z "Tiến Công” và tài khoản Zalo “JJ” do Nguyễn Đình V, Nguyễn Thị N4 không biết lai lịch, tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[7] Đối với Nguyễn Thị N4 là nhờ các bị cáo tổ chức trốn ra nước ngoài. Hành vi của Nguyễn Thị N4 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý trong vụ án.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1,4 Điều 349, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo phạm tội"Tổ chức cho người khác ở lại nước ngoài trái phép"
Xử phạt: Nguyễn Đình V 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Tạ Quốc B, Bùi Thị T2 mỗi bị cáo 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đình V cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Tạ Quốc B cho UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Bùi Thị T4 cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự .
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Đình V 20.000.000đ.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Tạ Quốc B và Bùi Thị T3 do có hoàn cảnh khó khăn.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo Nguyễn Đình V, Tạ quốc B1, Bùi Thị T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Thành viên |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Mai Khanh Mai Xuân T5 |
Nguyễn Thị Hải Minh |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
Bản án số 72/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
