Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày 25-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh.

Các Thẩm phán: Nguyễn Xuân Chiến và ông Lê Quốc Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị N - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLPT-HS, ngày 23-7-2024 đối với bị cáo Võ Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 13-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Võ Văn T, sinh ngày 23-10-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Đang là sinh viên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Võ Văn Thanh S, sinh năm 1979 và bà Trần Thị D, sinh năm 1980; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 11-9-2023 tại ngoại; có mặt.
  2. Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22-02-2005, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở trước khi phạm tội: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Đang là học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 và bà Trương Thị Kim T2, sinh năm 1967; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 11-9-202; tại ngoại; có mặt.
  3. Nguyễn Xuân V, sinh ngày 06-12-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Xuân N1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Hiền N2, sinh năm 1980; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 06-11-2023; tại ngoại; có mặt.
  4. Trần Văn S1, sinh ngày 08-3-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1969 và bà Dương Thị H1, sinh năm 1974; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 06-11-2023; tại ngoại; có mặt.
  5. Nguyễn Hoàng H2, sinh ngày 15-3-2005, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết); con bà Nguyễn Thị Thảo H3, sinh năm 1973; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 27-10-2023 đến ngày 02-01-2024; tại ngoại; có mặt.
  6. Nguyễn Quang L, sinh ngày 31-3-2006, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968 và bà Hà Thị Thanh M, sinh năm 1971; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại; có mặt.
  7. Cao Quốc V1, sinh ngày 21-11-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Cao Văn N3, sinh năm 1970 và bà Trương Thị Thu H4, sinh năm 1970; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 04-10-2021 bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 969/QĐ-CA, phạt tiền 1.750.000 đồng về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, bị cáo đã nộp phạt và được coi là chưa bị xử phạt hành chính; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 06-11-2023; tại ngoại; có mặt.
  8. Nguyễn Đình H5; tên gọi khác: Huy Đồng; sinh ngày 29-6-2003 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Thợ sơn; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1979 và bà Trương Thị Lệ T3, sinh năm 1979; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại; có mặt.
  9. Phạm Hoài P; tên gọi khác: “Phong Cl” sinh ngày 03-5-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở trước khi phạm tội: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; tân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Quốc K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1976; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 21-9-2023; tại ngoại; có mặt.
  10. Lê Anh D1, sinh ngày 14-10-2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Lê Văn K1, sinh năm 1978 và bà Đinh Thị Đ2, sinh năm 1980; có vợ là Doãn Thị Yến V2, sinh năm 2005 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-8-2023 đến ngày 06-11-2023 tại ngoại; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L: Bà Bùi Thị H6 và bà Nguyễn Thị X là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; Đường C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng H2: Bà Nguyễn Trương Hoài N4 - Luật sư thuộc Công ty L2; Địa chỉ: 85 dường số A, đường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 8 năm 2023, Bùi Quốc C2Trần Văn S1Nguyễn Ngọc H7 có mâu thuẫn với Phùng Thiên Ân. Sau đó, H7 nhắn tin thách thức đánh nhau với Phùng Thiên  và hẹn 23 giờ ngày 19-8-2023 gặp nhau tại khu vực ngã ba Đ thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để đánh nhau. Ngày 19-8-2023, Nguyễn Ngọc H7 rủ Bùi Quốc C2, Nguyễn Vũ Đ3, Lê Đăng H8, Y H9, Nguyễn Văn N5, Phạm Anh T5, Phạm Thanh B, Phan Anh V3, Cao Quốc V1 đến nhà Lê Hồng N6 để uống rượu thì gặp Trần Văn S1, Phạm Quang P1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Võ Văn TNguyễn Tấn Đ đi đánh nhau với nhóm của Phùng Thiên  thì tất cả đều đồng ý đi đánh nhau với nhóm của Phùng Thiên  và hẹn tập trung tại khu vực chợ T12. H7 gọi điện thoại cho Y H9Lê Đăng H8 đi cùng, H9 lấy 02 con dao rồi cùng Lê Đăng H8 đến khu vực chợ T12. Bùi Quốc C2 chở Nguyễn Ngọc H7 đến nhà Hồ Minh T6 lấy 02 con dao. Sau đó, D1 chở H7 đến nhà Lưu Lê Anh T7 lấy 02 con dao rựa, Đ3 lấy 01 con dao rựa từ tay H7, C2 cầm 02 con dao tự chế, H7 đưa cho Võ Văn T 01 con dao rựa, T đưa lại con dao cho Nguyễn Tấn Đ. Trần Văn S1Phạm Hoài P về nhà của S1 lấy 01 con dao, sau đó P đưa con dao cho Nguyễn Xuân V. Phạm Anh T5 mượn của Phạm Thanh B 01 con dao và mượn của Nguyễn Hữu T8 02 con dao rựa đưa cho Phan Anh V3 cầm 01 con dao, đưa lại cho Phạm Thanh B cầm 01 con dao và mang theo 03 vỏ chai bia để đánh nhau.

Sau khi đã chuẩn bị hung khí cả nhóm tập trung tại khu vực chợ T12 và chở nhau bằng xe mô tô đi đến ngã ba xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để đánh nhau với nhóm của Phùng Thiên Ân. Khi đi đến khu vực nhà thờ V5 thuộc xã Đ, huyện Đ thì nhóm của Nguyễn Ngọc H7 phát hiện Phạm Hoàng Duy K2 điều khiển xe gắn máy chở Nguyễn Hoàng T9 đang đi ngược chiều lại. Do nhầm tưởng là người của nhóm Phùng Thiên  nên S1 quay đầu xe lại chặn xe của Phạm Hoàng Duy K2 thì Nguyễn Ngọc H7 giật con dao rựa từ Nguyễn Vũ Đ3 chạy đến chém vào vùng đầu (đang đội mũ bảo hiểm), lưng, hông của Nguyễn Hoàng T9 (nhưng không gây thương tích). Bị đánh nên K2T9 để xe lại và bỏ chạy thì H7 dùng dao rựa chém làm hư hỏng xe gắn máy của Phạm Hoàng Duy K2 rồi nhóm của H7 tiếp tục đi về hướng ngã ba xã Đ.

Cùng thời điểm trên, sau khi hẹn đánh nhau với nhóm của Nguyễn Ngọc H7 thì Phùng Thiên  rủ Võ Bảo A, Hoàng Gia B1, Nguyễn Hoàng H2, Trần Quốc V4, Phạm Gia L1Võ Quốc D2 đi đánh nhau với nhóm của Nguyễn Ngọc H7 thì tất cả đều đồng ý. Phùng Thiên  về nhà lấy 01 con dao rựa, 01 dao tự chế, 01 ống típ sắt, 02 chai thủy tinh nhãn hiệu Number One và 01 chai nhựa (loại chai trà xanh 0°) bên trong có chứa xăng và 01 chiếc áo cũ, sau đó rủ thêm Nguyễn Quang L, Nguyễn Tuấn A1, Ngô Sỹ M1Phạm Ngọc T10 đi đánh nhau thì tất cả đều đồng ý. Cả nhóm của Phùng Thiên  chở nhau bằng xe gắn máy đến khu vực ngã ba Đ chờ nhóm của Nguyễn Ngọc H7. Tại đây, Phùng Thiên  lấy 02 chai thủy tinh mang theo để chế tạo bom xăng (xé áo để làm ngòi dẫn lửa) và đưa các hung khí cho những người đi cùng. Trong lúc chờ nhóm của H7 đến thì Nguyễn Đình H5 đi đến, thấy nhóm  đứng bên đường nên dừng lại hỏi thì biết nhóm  hẹn đánh nhau với nhóm của H7 nên H5 đứng lại để giúp nhóm  đánh nhau và  đưa cho H5 01 con dao tự chế. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi nhóm của Nguyễn Ngọc H7 đi đến ngã ba xã Đ phát hiện thấy nhóm của Phùng Thiên  nên Nguyễn Vũ Đ3 điều khiển xe một mình chạy vượt lên trước thì bị nhóm của  ném chai thủy tinh bên trong có chứa xăng, gạch và đá nên Đ3 bị ngã, những người còn lại bên nhóm H7 để xe ở lề đường chạy bộ về phía nhóm của Phùng Thiên  để đánh nhau. Thấy Nguyễn Vũ Đ3 bị ngã, Nguyễn Đình H5 cầm dao tự chế đi đến vị trí của Nguyễn Vũ Đ3 để đánh nhau. Lúc này, Bùi Quốc C2 cũng chạy đến vị trí của Nguyễn Vũ Đ3 nên Nguyễn Đình H5 vung dao lên chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía Bùi Quốc C2 nhưng không trúng thì Nguyễn Vũ Đ3 đứng dậy cầm dao rựa chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào mũ bảo hiểm của Nguyễn Đình H5 rồi tiếp tục dùng dao chém 01 nhát trúng vào vai của H5; Nguyễn Ngọc H7 dùng cán dao tự chế (đã bị rơi lưỡi dao) đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vai của Nguyễn Đình H5; Bùi Quốc C2 dùng cán dao (đã bị rơi lưỡi dao) đánh 01 cái trúng vào tay của H5 rồi tiếp tục đánh trúng vào mũ bảo hiểm của H5; Y H9 cầm con dao tự chế và trở sống dao đánh 03 cái trúng vào lưng của H5; Nguyễn Văn N5 cầm dao rựa chém theo hướng từ trên xuống, hơi chếch từ phải qua trái về phía Nguyễn Đình H5 thì H5 nghiêng người để né nên chém trúng vào phần hông bên phải sau lưng Nguyễn Đình H5 làm H5 ngã xuống đường thì tất cả dừng lại không đánh, chém H5 nữa. Cùng lúc này, Phạm Ngọc T10, Ngô Sỹ Minh P2 ném chai thuỷ tinh chứa xăng về phía nhóm của Nguyễn Ngọc H7 rồi cùng với Trần Quốc V4, Võ Bảo A, Hoàng Gia B1, Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Tuấn A1, Nguyễn Quang L, Võ Quốc D2, Phạm Gia L1 nhặt gạch, đá ném về phía nhóm của Nguyễn Ngọc H7. Hai bên tiếp tục hò hét, thách thức và lao vào đánh nhau nhưng không có ai bị thương. Nhóm của Phùng Thiên Ân 1 về phía sau và tiếp tục dùng gạch, đá ném nên nhóm của H7 lùi lại rồi bỏ về. Thấy Nguyễn Đình H5 bị thương nặng nên Bùi Quốc C2Nguyễn Vũ Đình bế H10 để đưa đi cấp cứu nhưng do nhóm của  tiếp tục dùng gạch, đá ném nên C2, Đ3 đặt H10 xuống. Lúc này, Cao Quốc V1 nhặt đá ném lại về phía của nhóm Phùng Thiên  còn Lê Đăng H8Lê Anh D1 dùng dao rựa chém làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vario màu trắng đỏ, biển số 48E1 - 344.08, xe gắn máy nhãn hiệu Lifan 50R màu trắng, biển số 48AE - 010.58 và xe gắn máy nhãn hiệu Bosscity màu xanh, trắng, biển số 48AE – 000.25 rồi tất cả bỏ ra về. Sau đó, Nguyễn Đình H10 được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 402/KLTTCT-PY, ngày 20/8/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ và tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 15/KLTTCT-PY, ngày 08/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đình H10 tại thời điểm giám định là 66%.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 13-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil quyết định:

Tuyên bố Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Tuyên bố Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Đình H10, Nguyễn Quang L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng

1. Về hình phạt:

1.1. Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P mỗi bị cáo 07 năm tù.

1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H10 03 năm tù.

1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H2 02 năm tù.

1.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 01 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Các ngày 18,19,20,24-6-2024, Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P, Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Đình H10, Nguyễn Quang L kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh mà Tòa án nhân huyện Đắk Mil xử phạt xét xử là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm có sai sót về việc xác định tư cách tố tụng của Nguyễn Đình H10 là bị cáo và bị hại trong vụ án, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L trình bày: Đồng ý với tội danh và điều luật cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp tài liệu chứng cứ mới là gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc bố mẹ và nuôi em nhỏ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng H2 vắng mặt và có cung cấp luận cứ bào chữa có nội dung như sau: Đồng ý với tội danh và điều luật mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo còn nhỏ chưa am hiểu rõ về pháp luật, bị bạn bè rủ rê, bản thân không gây thương tích cho ai, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã bồi thường cho Hoàng Anh T11 số tiền 500.000 đồng, bị cáo có nơi cư trú rõ dàng và ổn định. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1.1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 13-6-2024, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm. Ngày 18, 19, 20, 24-6-2024, Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P, Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Đình H10, Nguyễn Quang L kháng cáo, không vi phạm thời hạn theo Điều 342 của Bộ luật Tố Tụng hình sự, hình thức và nội dung phù hợp quy định tại Điều 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận.

[1.2]. Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Quang LNguyễn Đình H10, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Hoàng H2 02 năm tù, Nguyễn Quang L 01 năm 06 tháng tù, Nguyễn Đình H10 03 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuy nhiên xét thấy hành vi của các bị cáo mang tính chất băng nhóm, chuẩn bị hung khí nguy hiểm như bon xăng, dao rựa tự chế, gây rối nơi công cộng, đông người làm mất an ninh trật tự, hành vi của các bị cáo là coi thường pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt các bị cáo mức hình phạt là đã phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Quang LNguyễn Đình H10.

[1.3]. Đối với hành vi của Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xét thấy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trước đó nhưng Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Vũ Đ3, Bùi Quốc C2, Y H9, Nguyễn Văn N5, Lê Đăng H8, Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Thanh B, Phạm Anh T5, Phạm Hoài P, Phan Anh V3, Trần Tấn P3Phạm Quang P1 đã chuẩn bị dao, rựa để đi đánh nhau, kết quả hành vi của các bị cáo gây thương tích cho Nguyễn Đình H10 66%. Mặt khác, khi đi đến điểm hẹn các bị cáo còn hung hãn dùng dao rựa chém vào người đi đường, và có hành vi phá hoại làm hư hỏng tài sản. Thấy rằng, hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ, sẵn sàng dùng vũ lực để uy hiếp người khác nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự dẫn đến áp dụng mức hình phạt chưa phù hợp. Hơn nữa, Nguyễn Vũ Đ3, Nguyễn Ngọc H7, Bùi Quốc C2, Y H9, Nguyễn Văn N5 dùng dao đánh, chém vào vùng trọng yếu của Nguyễn Đình H10, theo Kết luận giám định H10 bị gãy mỏm ngang phải của đốt sống L1; Gãy xương sườn 10 phải; Gãy xương sườn 11 phải; Gãy xương sườn 12 phải; Đứt gan vùng hạ phân thuỳ VI (đã cắt bỏ một phần gan); Vết thương đứt cực dưới thận (P) (đã cắt bỏ một phần cực dưới thận). Thấy rằng, hành vi của các bị cáo tấn công một cách quyết liệt, hung hãn và côn đồ, nhiều người tấn công một người, theo Án lệ số 47/2021/AL “Về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại” và Công văn 100/TANDTC-PC về việc áp dụng Án lệ số 47/2021/AL ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của các bị cáo gây thương tích cho Nguyễn Đình H10 nếu không cấp cứu kịp thời có ảnh hưởng đến tính mạnh hay không? Vấn đề này chưa được cấp sơ thẩm trưng cầu giám định và chưa điều tra làm rõ để xác định đúng tội danh đối với các bị cáo. Đồng thời, trong vụ án Nguyễn Đình H10 là người bị thương tích do nhóm Nguyễn Ngọc H7 gây ra nhưng cấp sơ thẩm không xác định H10 là bị hại (đồng thời là bị cáo) trong vụ án là chưa đúng pháp luật. Do đó, mặc dù các bị cáo Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Vũ Đ3, Bùi Quốc C2, Y H9, Nguyễn Văn N5, Lê Đăng H8, Phạm Thanh B, Phạm Anh T5, Trần Tấn P3Phạm Quang P1 không có kháng cáo nhưng do có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, xét thấy cần hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm về tội “cố ý gây thương tích” để xác định tội danh, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Vũ Đ3, Bùi Quốc C2, Y H9, Nguyễn Văn N5, Lê Đăng H8, Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Thanh B, Phạm Anh T5, Phạm Hoài P, Phan Anh V3, Trần Tấn P3Phạm Quang P1 và xác định tư cách tố tụng đối với Nguyễn Đình H10. Do hủy một phần Bản án nên không xem xét đối với nội dung kháng cáo của Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P.

[2]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát một phần có căn cứ nên cần chấp nhận, đối với quan điểm của Luật sư và người bào chữa không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[3].Về án phí: Kháng cáo của Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Quang LNguyễn Đình H10 không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Do hủy một phần Bản án về tội “cố ý gây thương tích” không xem xét đối với nội dung kháng cáo của Võ Văn T, Trần Văn S1, Lê Anh D1, Nguyễn Xuân V, Cao Quốc V1, Nguyễn Tấn Đ, Phạm Hoài P nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm đ khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Quang L, Nguyễn Đình H10 giữ nguyên Bản án sơ thẩm về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo; Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm 35/2024/HS-ST ngày 13-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đối với hành vi của các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”. Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tuyên bố Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Đình H10, Nguyễn Quang L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H10 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H2 02 (Hai) năm tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-10- 2023 đến ngày 02-01-2024, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Quang L, Nguyễn Đình H10 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông;
  • - CQCSĐT CA huyện Đắk Mil;
  • - VKSND huyện Đắk Mil ;
  • - TAND huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn T và đồng phạm phạm tội "cố ý gây thương tích" theo Điều 134 của BLHS và tội "gây rối trật tự công cộng" the Điều 318 của BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger