Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Phong.
  2. Ông Võ Đức Huy.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp 1, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn C, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp 1, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:

Bà và ông Đoàn Văn C có tổ chức lễ cưới vào năm 2003, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An vào ngày 01/3/2004. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc cùng gia đình chồng ở ấp 1, xã A, huyện B, sau đó tháng 02/2004 ba mẹ chồng cất nhà tole vách lá cho ông bà ra ở riêng. Đến khoảng tháng 7/2006 ông bà được cho căn tình nghĩa nhà cấp 4 và sinh sống đến năm 2015. Do bà và ông C phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên có lời qua tiếng lại, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ vấn đề tài chính trong gia đình, ông C làm nghề xà cừ có thu nhập ổn định từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng nhưng ông C không phụ giúp gia đình, không lo cho vợ con chỉ tiêu xài cá nhân, ông còn thường xuyên nhậu nhẹt về chửi bới, ghen tuông, đánh đập bà nhiều lần nên cuối năm 2015 bà về nhà mẹ ruột sinh sống ở ấp 1, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An cho đến nay. Khi bà về nhà mẹ ruột sinh sống vào năm 2015 thì ông C có theo bà về sống ở Đức Huệ cho đến năm 2021 thì ông C bỏ về ấp 1, xã Tân Thành và không còn sống chung với bà, bà đã ly thân với ông C từ năm 2021. Năm 2021 ông C có bán 2 công đất nhà ở do ông C đứng tên tại ấp 1, xã A, huyện B cho bà được 40 triệu đồng và không thấy liên lạc với bà nữa. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Văn C.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006. Khi nộp đơn bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nhưng nay con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh đã trưởng thành không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không ý kiến gì thêm.

Bị đơn ông Đoàn Văn C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không có lời trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được vì ông Đoàn Văn C vắng mặt nên Tòa án quyết định đưa ra vụ án xét xử.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Đoàn Văn C. Về con chung: Vợ chồng bà H có 01 con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006. Khi nộp đơn bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nhưng nay con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh đã trưởng thành không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần nên xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2

Chứng cứ mà bà Võ Thị H cung cấp trong vụ án là: Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Bản photo căn cước công dân bà H; Xác nhận thông tin về nơi cư trú; Bản tự khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Võ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Văn C. Ông C cư trú tại ấp 1, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bà Võ Thị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại văn bản xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã Tân Thành xác nhận ông Đoàn Văn C có cư trú và sinh sống tại ấp 1, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông C, ông C đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H và ông C.

[2] Xét yêu cầu ly hôn của bà H, thấy rằng: Bà H và ông C xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2004, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/3/2004 nên hôn nhân của bà H và ông C là hôn nhân hợp pháp. Theo bà H nguyên nhân mâu thuẫn là bắt nguồn từ vấn đề tài chính trong gia đình, ông C làm nghề xà cừ có thu nhập ổn định từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng nhưng ông C không phụ giúp gia đình, không lo cho vợ con chỉ tiêu xài cá nhân, ông còn thường xuyên nhậu nhẹt về chửi bới, ghen tuông, đánh đập bà nhiều lần nên cuối năm 2015 bà về nhà mẹ ruột sinh sống ở ấp 1, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An cho đến nay. Khi bà về nhà mẹ ruột sinh sống vào năm 2015 thì ông C có theo bà về sống ở Đức Huệ cho đến năm 2021 thì ông C bỏ về ấp 1, xã Tân Thành và không còn sống chung với bà, bà đã ly thân với ông C từ năm 2021. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông C, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Văn C. Về phía ông C, từ khi bà H nộp đơn khởi kiện đến nay mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H nhưng ông C cũng không có ý kiến gì, liên tiếp vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cho thấy ông C không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng và gìn giữ cuộc hôn nhân này. Căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà bà H đã trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp.

3

[3] Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng bà có 01 con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006 hiện đang sống chung với bà H. Khi nộp đơn khởi kiện bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 14/5/2006, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nhưng nay con chung tên Đoàn Thị Huỳnh Nh đã đủ 18 tuổi không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, ông C vắng mặt không có lời trình bày về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Bà Võ Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H về việc "Ly hôn" với ông Đoàn Văn C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị H được ly hôn với ông Đoàn Văn C.
  2. Về án phí: Buộc bà Võ Thị H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008372 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, bà Võ Thị H đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Võ Thị H và ông Đoàn Văn C vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - UBND xã Tân Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Đức Quân

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị H yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger