TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Kim Dung và bà Hoàng Thị Lan
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Đức Thiện – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Hồ Sỹ Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại tại Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị và Nhà tạm giữ Công an huyện H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 11/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-QĐ ngày 05/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2024/HSST-QĐ ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:
Hồ Văn T, sinh năm 1989 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Bru Vân Kiều; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn K và bà Hồ Thị H; có vợ là Hồ Thị Đ và có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án: Ngày 16/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 70/2020/HS-ST, chấp hành xong ngày 27/01/2022.
Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T: Ông Trần Đại N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại: Chị Hồ Thị S, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Hồ Thị S: Bà Nguyễn Thị Thủy T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người phiên dịch: Ông Hồ Quốc P; Địa chỉ: K, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/10/2023, Hồ Văn T đến nhà ông Hồ Văn T2 ở cùng thôn chơi và uống rượu, đến khoảng 22 giờ cùng ngày T ra về. Khi đi qua điểm Trường mầm non thôn C, xã H, huyện H, thấy đoàn cấp phát quà từ thiện đang giao lưu văn nghệ nên T cũng vào tham gia. Tại đây T thấy chị Hồ Thị S cũng có mặt và có uống nhiều bia rượu. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/10/2023, sau khi giao lưu xong thì T đi bộ ra khu vực cầu gần nhà ông Hồ L ở thôn C, xã H, huyện H ngồi chơi và này sinh ý định muốn quan hệ tình dục với Hồ Thị S nên T đi bộ một mình đến nhà chị S. Khi đến nhà chị S, nhìn thấy cửa sổ không khóa nên T trèo qua cửa số đề vào nhà. Lúc này chị S đã ngủ say do trước đó đã uống nhiều bia rượu. T đi vào phòng ngủ nhìn thấy chị S cùng con gái đang ngủ trên giường. Tiên tiến đến dùng tay trái vén váy của S lên ngang ngực thì thấy chị S không mang quần lót, biết chị S đã sử dụng nhiều rượu bia và cho rằng chị S đã bị say nên T dùng tay trái sờ vào vùng âm hộ của chị S khoảng 10 phút, thấy chị S vẫn không có phản ứng gì, T liền cởi hết quần áo của mình ra khỏi người rồi dùng tay phải nâng chân trái của chị S lên, còn tay trái cầm dương vật của mình đưa vào âm hộ của chị S rồi nhấp vào nhấp ra được khoảng 01 phút thì chị S tỉnh dậy, T rút dương vật và lùi ra. Khi tỉnh lại thấy T đang ở cạnh mình, trên người không có quần áo nên chị S hỏi “Anh lên đây làm chỉ”, T trả lời “Anh thích em” và xin Hồ Thị S cho T tiếp tục quan hệ tình dục nhưng chị S không đồng ý. Kiểm tra âm đạo của mình thấy ướt và có chất lỏng chảy ra, chị S hỏi “Anh đã làm gì em rồi” thì T xin lỗi và xin về. Do có con gái nằm bên cạnh nên chị S nói “Anh mang áo quần vào rồi nói chuyện, nếu như anh mà về thì tôi sẽ hét lên” rồi dùng tay tát vào má của T 03 cái. Do sợ người trong làng phát hiện nên T ngồi lại, tiếp tục xin lỗi và xin về thì chị S đồng ý và yêu cầu T để đồ đạc lại, kể cả chiếc quần đang mặc để làm bằng chứng. Nghe vậy T cởi quần áo ra đưa cho Hồ Thị S và để lại 01 cái ví da, 01 chứng minh nhân dân, 01 cái áo phông, 01 chùm chìa khóa. Sau đó T xin lại chiếc quần để mặc rồi trèo qua cửa sổ đi về nhà. Sau khi sự việc xảy ra, đến ngày 27/10/2023 chị Hồ Thị S làm đơn trình báo sự việc tại Công an xã H, huyện H, đồng thời giao nộp các đồ vật mà T để lại.
Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 682-23/KLXHTD-GĐPY ngày 29/12/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh T kết luận:
- Bộ phận sinh dục của Hồ Thị S phát triển bình thường. Niêm mạc âm hộ - tầng sinh môn không phát hiện tổn thương.
- Màng trinh xơ quăn, rách cũ nhiều nơi, không còn hình dạng nhất định. Niêm mạc màng trinh và chân màng trinh không phát hiện tổn thương. Lỗ trình rộng.
Kết quả khám lâm sàng, siêu âm bụng, phần phụ xác định Hồ Thị S không có dấu hiệu mang thai. Trên cơ thể không phát hiện tổn thương do thương tích gây nên
Quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hồ Văn T vật chứng:
- 01 áo phông màu xanh đen bằng vải, đã qua sử dụng.
- 01 ví da màu đen, có nắp khóa màu trắng xám bằng kim loại, đã qua sử dụng.
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Văn T.
- 01 chùm chìa khóa gồm có 02 chìa
- Tiền Ngân hàng N1 613.000 đồng; 01 có mệnh giá 02 USD và 02 tờ tiền có mệnh giá 1.000 Kíp Lào. tờ tiền nước ngoài
Bản cáo trạng số: 65/CT-VKSHH ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Hiếp dâm”;
Căn cứ khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng và tại phiên toà hôm nay bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 25.000.000 đồng về thiệt hại nhân phẩm, danh dự; bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, 585 và 586 Bộ luật dân sự chấp nhận sự thoả thuận trên.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo Hồ Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/10/2023, lợi dụng việc chị Hồ Thị S ngủ say do dùng nhiều bia rượu, Hồ Văn T đã thực hiện hành vi giao cấu với chị Hồ Thị S trái ý muốn. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Hồ Văn T đã phạm vào tội “Hiếp dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án và chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố xét xử, bị cáo Hồ Văn T đã thành khẩn khai báo; Bị cáo đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của chị Hồ Thị S, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nên cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hồ Thị S đã nhận bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại về nhân phẩm và danh dự số tiển 25.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại nên căn cứ vào Điều 584, 585 và 586 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ Văn T phải tiếp tục bồi thường số tiền 25.000.000 đồng cho bị hại Hồ Thị S.
[5] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã trả lại vật chứng cho chủ sở hữu, việc trả lại vật chứng là đúng theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hồ Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào Điều 584, 585 và 586 Bộ luật dân sự
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Hiếp dâm”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (29/02/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn T phải tiếp tục bồi thường về thiệt hại danh dự và nhân phẩm số tiền 25.000.000 đồng cho bị hại chị Hồ Thị S.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (tội hiếp dâm)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Hiếp dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn T - Hiếp dâm
