Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 25-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền

Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoài H, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1988 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn V và bà Lê Thị L; vợ: Hà Thị Văn N; con: có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/02/2024, cho bảo lĩnh tại ngoại ngày 06/5/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Tổng Công ty B

Đại diện: Bưu điện huyện A. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện: Bà Phạm Thị H1 - Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Bưu điện huyện A (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/01/2022, Bưu điện tỉnh K có ký hợp đồng thuê khoán phát xã với bị can Nguyễn Hoài H, theo đó bị can H thực hiện việc thuê khoán phát xã tại địa bàn xã T và xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang và giao quyền quản lý cho Bưu điện huyện A, tỉnh Kiên Giang khi thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau: Bị can H được Bưu điện huyện A giao nhiệm vụ vận chuyển, phát bưu gửi, hàng hóa tại địa bàn xã T và xã T, thu các khoản tiền thu hộ của khách hàng, sử dụng dịch vụ phát hàng thu tiền (Thu tiền COD).

Trong khoảng thời gian thực hiện nhiệm vụ tại Bưu điện huyện A, từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 06 năm 2022, bị can Nguyễn Hoài H đã trực tiếp phát bưu gửi, hàng hóa và thu các khoản tiền thu hộ của khách hàng. Tại địa bàn xã T, bị can H đã tự ý lấy 383 (Ba trăm tám mươi ba) bưu gửi, với tổng số tiền là 148.526.678đ (Một trăm bốn mươi tám triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng), sử dụng chi tiêu cho mục đích cá nhân. Tại địa bàn xã T, bị can H đã tự ý lấy 201 (Hai trăm lẻ một) bưu gửi, với tổng số tiền là 105.053.540đ (Một trăm lẻ năm triệu không trăm năm mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng), sử dụng chỉ tiêu cho mục đích cá nhân. Tổng số bưu gửi bị can Nguyễn Hoài H đã tự ý lấy là 584 (Năm trăm tám mươi bốn) bưu gửi, bằng tổng số tiền là 253.580.118đ (Hai trăm năm mươi ba triệu năm trăm tám mươi nghìn một trăm mười tám đồng). Tại thời điểm bị phát hiện, bị can Nguyễn Hoài H cùng Bưu điện huyện A, đối chiếu, sao kê cụ thể, chi tiết từng bưu gửi, bị can H đã nộp lại cho Bưu điện huyện A số tiền 66.323.119đ (Sáu mươi sáu triệu ba trăm hai mươi ba nghìn một trăm mười chín đồng). Tổng số tiền bị can Nguyễn Hoài H chiếm dụng chưa nộp lại cho Bưu điện huyện A là 187.256.999đ (Một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện Bưu điện huyện A là bà Phạm Thị H1 yêu cầu bị can Nguyễn Hoài H có trách nhiệm giao nộp khắc phục lại tổng số tiền đã chiếm dụng là 187.256.999đ (Một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). Bị can H đã nộp khắc phục được số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).

Tại cáo trạng số 41/CT-VKS-AM ngày 17-4-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Hoài Hận về tội Tham ô tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Hoài H phạm tội Tham ô tài sản và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H từ 02 đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Hoài H thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Về trách nhiệm dân sự đã khắc phục tổng cộng 120 triệu đồng, còn lại 67.256.999 đồng xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng, bắt đầu trả vào tháng 8 năm 2024. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo xin được ở ngoài để làm nuôi con và trả nợ cho Bưu Đ.

- Người đại diện của bị hại Bưu điện huyện A trình bày: xác định bị cáo đã khắc phục được tổng cộng 120 triệu đồng, còn lại 67.256.999 đồng; số nợ các bên đã thỏa thuận và thống nhất cho bị cáo trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ, tạo điều kiện cho bị cáo được ở nhà để làm nuôi con và thực hiện nghĩa vụ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Hoài H có ký kết hợp đồng thuê khoán phát xã với Bưu điện tỉnh Kiên Giang và được giao cho Bưu điện huyện A quản lý, nhiệm vụ của H là vận chuyển, phát bưu gửi hàng hóa và thu các khoản tiền thu hộ của khách hàng tại địa bàn xã T và xã T, huyện A. Trong khoảng thời gian từ tháng 02 năm 2022 đến tháng 6 năm 2022 Nguyễn Hoài H đã tự ý chiếm dụng 383 bưu gửi tại địa bàn xã T với tổng số tiền 148.526.678 đồng và 201 bưu gửi ở địa bàn xã T với tổng số tiền 105.053.540 đồng, tổng cộng là 584 bưu gửi, với tổng số tiền là 253.580.218 đồng để chi xài cá nhân. Khi bị phát hiện Nguyễn Hoài H đã nộp lại cho Bưu điện huyện A 66.323.119 đồng, số tiền còn lại 187.257.099 đồng không giao nộp.

[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp và hoạt động đúng đắn bình thường của doanh nghiệp; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người lao động thông qua hợp đồng, được giao nhiệm vụ giao hàng và nhận tiền nên được xác định là người có quyền hạn trong việc quản lý số tiền thu được. Bị cáo đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản mà bị cáo có trách nhiệm quản lý là hành vi phạm tội Tham ô tài sản quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 187.257.099 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Hoài H phạm tội Tham ô tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, xâm phạm đến tài sản hợp pháp và hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục được 2/3 tài sản chiếm đoạt, có thân nhân là người có công với cách mạng; đại diện bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của Bưu điện huyện A, gây bất ổn và dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, được bị hại xin giảm nhẹ, mới phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về lo cho gia đình. Do bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và các tình tiết giảm nhẹ đã được áp dụng để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nên không thể áp dụng thêm để cho bị cáo hưởng án treo như nguyện vọng của bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nộp khắc phục 120.000.000 đồng, còn lại 67.257.099 đồng. Tại phiên tòa bị cáo với đại diện bị hại đã thống nhất thỏa thuận bị cáo trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng, bắt đầu trả vào tháng 8 năm 2024 cho đến khi hết nợ nên HĐXX ghi nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: miễn áp dụng.

[6] Về án phí, bị cáo Nguyễn Hoài H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.362.855 đồng (67.257.099 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 3.562.855 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài H phạm tội Tham ô tài sản.
    1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H 02 (hai) năm tù về tội Tham ô tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/02/2024 đến ngày 06/5/2024.
    2. Về hình phạt bổ sung: miễn áp dụng.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 275, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa, theo đó bị cáo Nguyễn Hoài H có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty B (đại diện là Bưu điện huyện A, tỉnh Kiên Giang) số tiền là 67.257.099 đồng theo phương thức trả dần, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng, bắt đầu trả từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi hết số tiền.

    Nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo định kỳ như đã thỏa thuận, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án toàn bộ số tiền chưa trả và kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Hoài H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.362.855 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 3.562.855 đồng.
  4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25-7-2024).

    Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; BH;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Vân Khánh Đông, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài H Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger