Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn, ông Nguyễn Xuân Minh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Việt Anh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Ông Lê Việt Đức

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2024/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên : Trần Anh D Giới tính : Nam Sinh năm: 1984

Nơi cư trú : 8/222/67 L, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc : Kinh Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp : Không Trình độ học vấn : 12/12

Họ tên cha : Trần Chí L- Sinh năm : 1957

Họ tên Mẹ : Nguyễn Thị Kim L1- Sinh năm : 1962

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất

TATS: 01 tiền án, 01 tiền sự

- Ngày 24/4/2015, Công an phường V xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy – ngoài thời hiệu.

- Ngày 28/11/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (AS : 238/2017/HSST). Ra trại : 15/6/2022 – chưa xóa án tích.

Tạm giữ : 19/12/2023 Tạm giam: 25/12/2023 Số giam : 5904C2/21A

Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an T2.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên : Nguyễn Thanh H Giới t : Nam Sinh năm: 1979

HKTT : 3/3/79 Thái Hà, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, TP Hà Nội

Nơi ở : 14A/69/14 Trung Liệt, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc : Kinh Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp : Không Trình độ học vấn : 12/12

Họ tên cha : Nguyễn Văn S- Sinh năm : 1943

Họ tên Mẹ : Trương Thị Thanh T- Sinh năm : 1948

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai

TATS: 01 tiền án

- Ngày 09/9/2016, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (AS : 361/2016/HSST). Ra trại : 16/11/2021 – chưa xóa án tích.

Tạm giữ : 19/12/2023 Tạm giam: 25/12/2023 Số giam : 5903C2/6A

Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an T2.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:

Bà Nguyễn Thị Kim L1 Sinh năm: 1962

HKTT: 8/222/67 L, phường K, quận Đ, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 18/12/2023, tổ Công tác Đội CSĐTTP về Ma túy - Công an quận H làm nhiệm vụ tuần tra, phát hiện Trần Anh D đang dừng đỗ xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ, biển kiểm soát: 30P4 - 2353 tại đối diện cầu thang số 14 chợ Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D tự nguyện giao nộp từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc 01 túi nilông kích thước khoảng 2x4cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong là ma túy “đá” vừa mua của Nguyễn Thanh H ở ngõ D T, phường T, quận T, Hà Nội nhằm mục đích bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản, đưa D cùng tang vật về trụ sở Công an quận H giải quyết.

Ngoài ra thu giữ của Trần Anh D: 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ, BKS: 30P4 – 2353 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, kèm sim số: 0797.892.734 (Đã qua sử dụng).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Anh D khai: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, D nhận được điện thoại từ số thuê bao “0966.700.391” của 01 nam thanh niên không quen biết, gọi đến số “0797.892.734” của D, nhờ mua 500.000 đồng ma túy “đá”. D đồng ý, hẹn nam thanh niên này ra cổng chợ Đ, phố H, quận H để giao dịch. Sau đó, D gọi điện cho Nguyễn Thanh H (bạn xã hội, số điện thoại “0332.111.xxx”; nhà ở ngõ D T, quận Đ, Hà Nội) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá”. H đồng ý và hẹn D qua ngõ D T lấy ma túy. D đã chuyển khoản cho H 300.000 đồng vào số tài khoản “0332111509” tại ngân hàng M, rồi lấy xe máy nhãn hiệu honda A (BKS: 30P4 – 2353; xe của mẹ D) đến D T để lấy ma túy. Sau khi mua được ma túy, D cất vào túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đến cổng chợ Đ trên phố H để bán. D đi đến khu vực trước số A chợ Đ phường Đ, quận H, Hà Nội chờ khách, chưa kịp bán ma túy thì bị kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Điện thoại bị thu giữ, D sử dụng để trao đổi mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ lời khai của Trần Anh D, Cơ quan điều tra đã dẫn giải Trần Anh D đến 6 phường T, quận Đ, Hà Nội, D đã chỉ và xác nhận Nguyễn Thanh H đang đi bộ trong ngõ chính là người bán ma túy cho D vào chiều ngày 18/12/2023. Cơ quan điều tra đã mời H về trụ sở Công an phường T, quận Đ, Hà Nội để giải quyết. Tại trụ sở Công an phường T, H khai nhận đã bán ma túy cho D.

Thu giữ của Nguyễn Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nubia màu vàng đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0332111509.

Tiến hành khám xét chỗ ở của H tại căn nhà số A A T, phường T, quận Đ, Hà Nội thu giữ của Nguyễn Thanh H:

  • - 01 hộp kính màu xanh bên trong có:
    • + 01 (một) túi nilông dính tinh thể màu trắng.
    • + 01 (một) túi nilong kích thước khoảng 4x6cm chứa chất tinh thể màu trắng.
    • + 01 (một) túi nilong kích thước khoảng 4x4cm bên trong dính tinh thể màu trắng
    • + 01 (một) bọ coóng thủy tinh có ống hút bằng nhựa (là tẩu hút tự tạo) có dính tinh thể màu trắng
  • - 01 (một) chiếc cân điện tử màu bạc dính tinh thể màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 8526 ngày 27/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố T2 xác định:

  • * Tang vật thu giữ của Trần Anh D:
    • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,210 gam.
  • * Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh H:
    • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,220 gam.
    • - 01 túi nilông, 01 bộ tẩu hút tự tạo, 01 cân điện tử màu bạc đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh H: Khoảng đầu tháng 12/2023, H mua 1.600.000 đồng ma túy “đá” của 01 người không quen biết tại phố C, quận H, Hà Nội nhằm mục đích vừa bán vừa sử dụng. Sau khi mua ma túy, H cất giấu tại nhà. Khoảng 15 giờ 39 phút ngày 18/12/2023, Trần Anh D sử dụng số thuê bao “0797.892.734” gọi đến số điện thoại “0332.111.xxx” của H hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá”, H đồng ý và hẹn D khoảng 16 giờ sẽ giao ma túy cho D, đồng thời yêu cầu D chuyển tiền đến số tài khoản 0332111509; tại ngân hàng M1 của Nguyễn Thanh H. Sau khi nhận được tiền, H đến ngõ F T, Đ, Hà Nội giao ma túy cho D. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H đang đi bộ từ nhà đi ra ngõ F T thì bị kiểm tra, đưa về trụ sở làm việc. Khám xét khẩn cấp nhà của H, Cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ dưới gầm giường có ma túy “đá”, dụng cụ sử dụng ma túy của H. Điện thoại bị thu giữ, H sử dụng liên lạc bán ma túy cho D.

Về người bán ma túy cho Nguyễn Thanh H: H không biết nhân thân lai lịch, giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh, làm rõ để xử lý.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ, BKS: 30P4 – 2353 thu giữ của Trần Anh D: Qua tra cứu, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng, chủ xe là bà Nguyễn Thị Kim L1 (sinh năm: 1962; HKTT: 8/222/67 L, phường K, quận Đ, Hà Nội; mẹ của D). Tại cơ quan điều tra, bà L1 khai mua chiếc xe trên năm 2010, cho D mượn để đi lại, không biết việc D sử dụng để mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã trao trả xe cho bà L1; sau khi nhận lại xe, bà L1 không có yêu cầu gì.

Về đối tượng hỏi mua ma túy của Trần Anh D: giao dịch chưa thực hiện, đối tượng sử dụng số thuê bao 0966700391: xác định chủ thuê bao là Nguyễn Minh T1 (nhà tại xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh). Tại cơ quan điều tra, anh T1 khai không quen biết Trần Anh D, không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 01/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố các bị cáo Trần Anh D, Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Anh D, Nguyễn Thanh H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Anh D mức án từ 30 đến 34 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 34 đến 38 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy có đủ căn cứ kết luận khoảng 16 giờ ngày 18/12/2023, tại ngõ F T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thanh H đã bán trái phép 0,210 gam ma túy loại Methamphetamine cho Trần Anh D. Tiếp đó, Trần Anh D đã có hành vi cất giấu 0,210 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép thì bị bắt quả tang tại đối diện cầu thang số 14 chợ Đ phường Đ, quận H, Hà Nội. Khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh H, thu giữ 0,220 gam ma túy loại Methamphetamine, H cất giấu nhằm mục đích bán trái phép. Tổng khối lượng ma túy H bán trái phép là 0,430 gam ma túy loại Methamphetamine.

Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân của bị cáo Trần Anh D có 01 tiền án (chưa xóa án tích), 01 tiền sự (ngoài thời hiệu). Bị cáo Nguyễn Thanh H có 01 tiền án (chưa xóa án tích).

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Các bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[6] Về tang vật:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: số ma tuý; 01 cân điện tử, 01 bộ tẩu hút, hộp giấy và các túi nilon dính ma tuý; 02 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 điện thoại di động liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Thanh H: H không biết nhân thân lai lịch, giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nên HĐXX không xem xét.
  • - Bà Nguyễn Thị Kim L1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy Honda Airblade, màu đỏ, BKS: 30P4 – 2353 và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
  • - Về đối tượng hỏi mua ma túy của Trần Anh D: Giao dịch chưa thực hiện, đối tượng sử dụng số thuê bao 0966700391: xác định chủ thuê bao là Nguyễn Minh T1 (nhà tại xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh). Tại cơ quan điều tra, anh T1 khai không quen biết Trần Anh D, không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nên HĐXX không xem xét.

[8] Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân các bị cáo, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Anh D 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2023.

2. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu huỷ 0,210 gam Methamphetamine (PC09 trích lấy mẫu 0,030 gam, còn lại 0,180 gam);
  • - Tịch thu tiêu huỷ 0,220 gam Methamphetamine (PC09 trích lấy mẫu 0,040 gam, còn lại 0,180 gam);
  • - Tịch thu tiêu huỷ 02 hộp giấy hình chữ nhật, 01 bộ tẩu hút tự tạo, 01 cân điện tử màu bạc, 02 túi nilon dính ma tuý; 02 sim điện thoại đã cũ;
  • - Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nubia màu vàng đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen.

(Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm và được mô tả cụ thể theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 22/4/2024).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Anh D, Nguyễn Thanh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoản 1 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger